Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2009

Lẳng lặng mà nghe “họ” ... chúc nhau!

Diễn đàn Dân trí - Thứ Ba, 27/01/2009 - 11:18 AM

Trước tiên xin các bạn miễn thứ cho điều này: Nguyên văn câu thơ của nhà thơ trào phúng đất Non Côi sông Vỵ mà ai ai cũng thuộc, là: "Lẳng lặng mà nghe "nó" chúc nhau"; nhưng kẻ hậu sinh này xin được dùng chữ “họ”.
Bởi nhẽ thời Cụ, có thể sự nhận diện quan thanh liêm, quan chính trực hay quan tham... là khá dễ dàng! Dễ, nên Cụ chả sợ gì, cứ thẳng ... miệng gọi bọn họ là "nó" (mặc dù Cụ chưa chắc đã lớn tuổi hơn... "nó"!). Bây giờ "tham nhũng" lại có khi là "đồng chí" của mình, là “cấp trên” của mình, là cái nhà ông đã từng đứng trên bục rao giảng "đạo đức Cách Mạng" cho mình; thì dù Cụ Tú có cho phép, tôi, kẻ viết bài này cũng không dám gọi bằng ... "nó"! Thôi, gọi "họ" cho nó lịch sự.
Thời đại bây giờ, "sống và làm việc theo pháp luật", nên càng phải thận trọng. Đã nói đến pháp luật thì điều trước tiên là phải có bằng chứng - không bằng chứng, dễ mắc tội vu khống lắm. Cho nên mới thấy "có biểu hiện... " mà đã gọi người ta bằng "nó", bằng "đứa" như Cụ Tú thời xưa, thì vô phép, có ngày chuốc họa vào thân!
Trước kia, trong ngày Tết truyền thống, cán bộ và nhân dân mình cũng chúc nhau; nhưng là chúc "mạnh khỏe", "hạnh phúc", chúc "thi đua yêu nước", chúc "làm việc bằng hai", chúc "lập chiến công", "lập thành tích",... chứ tuyệt không có chúc giầu sang. Đặc biệt cái từ "thăng quan tiến chức" bị giấu biệt!
Những Tết đầu tiên nghe mấy cán bộ Nhà Nước mình chúc nhau: "an khang thịnh vượng", nhiều người đã thấy "chờn chợn", ngường ngượng, khó lọt tai lắm! Lâu dần nghe nhiều, mới thấy quen. Người chúc cũng cười, mà "xếp" cũng cười! Vui vẻ, đầm ấm, sung sướng và hạnh phúc lắm! Rồi “cơ chế thị trường” ngày càng phát triển, người ta không chỉ chúc xuông, mà còn dâng tặng nhau những "lễ" rất hậu. Hậu đến mức nào ư? Thông thường là những phong bì USD, rồi có khi cả một chiếc xe hơi đời mới hay một lô đất cũng nên (nhưng chẳng có bằng chứng đâu, dân ngồi bệt dưới đất thì làm sao có bằng chứng được? Nói nghe biết vậy thôi đấy nhé!). Thế là "lời chúc" lập tức thành hiện thực! Hơn cả trò ảo thuật của nhà ảo thuật lừng danh thế giới "Cooc-pơ-phin"! Cụ Tú mà sống lại, phen này buôn "lọng", nuôi gà, chắc chắn đều lãi to! Mà Cụ Tú cũng thật lẩm cẩm, ai lại đi lo "trăm nghìn vạn mớ để vào đâu?". Để kho bạc, để vào thẻ ATM, nhiều nữa thì gửi sang ngân hàng nước ngoài. Một cú "kích chuột" là xong - thời đại "a-còng" mà! Đâu có lạc hậu như cái thời Cụ?!. Cho nên thiên hạ hãy lắng nghe:
"Lẳng lặng mà nghe "họ" chúc nhauChúc cho toại nguyện cả sang… giàuCon đường… luồn lách thênh thang mãiSuốt cả đời này đến kiếp sau…
Vâng! Dân mình từ lâu đã có nếp sống văn minh không còn đốt pháo vào dịp Tết nữa. Thật yên tĩnh, tha hồ “lẳng lặng mà nghe...!”

Trần Huy Thuận - Nam Định

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2009

Văn tế tử sĩ...chứng khoán

Xưa cụ đồ Chiểu có bài "Văn tế nghĩa sĩ", nay các nhà đầu tư chứng khoán cũng tự mình khóc thương cho mình bằng "Văn tế tử sĩ... chứng khoán". Tử sĩ ở đây là những kẻ đã vì sự nghiệp chứng khoán mà hy sinh tiền của..

Hỡi ôi!
Thị trường sụp đổ,
Lòng người đau khổ
Ki cóp bằng lao động khó nhọc mười năm
Tiền rủng rỉnh há cũng nổi danh
Mà một thoáng lên sàn
Tiền mất, tật mang tiếng vang như mõ
Nhớ khi xưa:
Chịu khó làm thêm
Tiền không nhiều
Nhưng cũng đủ đưa vợ đi xem phim, ca nhạc
Bản tính thật thà
Việc lăng xê, làm giá
Chẳng bao giờ biết!
Sàn chứng khoán đã mở nhiều năm
Chẳng muốn tham gia
Ghét trò buôn lận bán gian
Như nhà nông ghét cỏ!
Nào ngờ thị trường nổi lên:
Mỗi ngày kiếm năm phần trăm
Hỉ hả tiền vào ra
Vợ con nở mặt, nở mày
Chẳng phải chém rắn, đuổi hươu
Vẫn khen giỏi quá!
Phen này xin ra sức đoạn kình
Chẳng thèm làm thêm, chẳng thèm xin vợ
Mở túi xắn tay đi hốt bạc.
Khá thương thay!
Vốn chẳng phải nhà đầu tư, kinh tế
Theo đuôi đi làm ăn
Chẳng qua chỉ là xe ôm, giúp việc
Thích thì lên sàn
Việc tính toán chẳng bao giờ rõ
Chẳng biết tài chính là gì
Vẫn đặt lệnh nọ kia
Vẫn lời lãi ăn chia đủ cả
Hồng hộc xốc tới, coi tiền như không
Mặc ai cảnh báo nhỏ to
Chen lấn lên sàn, liều mình như chẳng có
Kẻ mua cao, người bán thấp
Làm cho mọi người trợn mắt hồn kinh
Trối kệ tiền của nhà, tiền nợ
Vẫn lăm lăm lời lãi đến cùng
Đâu biết xác phàm vội bỏ
Thị trường mới đỏ có vài phiên
Đã tranh bán với nhau
Tiền thu về không đủ nợ
Nuôi béo mấy thằng Tây
Trăm năm thì trường nói ấy là chữ MÊ
Chẳng bao giờ vinh quy với vợ
Ôi thôi thôi!
Chùa Trấn Quốc năm canh ưng đóng lạnh
Chút lòng tham xin trả lại ánh trăng rằm
Tiền với bạc trôi theo dòng nước đổ
Tiếc tiền quá, mẹ già ngồi khóc trẻ
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng.
Ôi!
Một trận chơi hoang
Ngàn ngày chết dở
Thương vì hai chữ thiêu thân
Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm
Nói một câu quá khổ...
Thương thay nhà đầu tư nhỏ!!!

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2009

CHÚC MỪNG NĂM MỚI.




Đầu xuân xin gởi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới tất cả mọi người và Blog của chúng ta.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2009

Dưỡng tâm - Tích đức

I/Dưỡng tâm
1/Ba nhớ
Nhớ rằng mình là người bình thường. Luôn tự coi mình là người bình thường làm cho lòng ta thanh thản. Người ở cương vị càng cao mà biết tự coi mình là người bình thường thì càng được kính trọng. Đối với một số người điều này là không dễ, bởi vì ngay một anh binh nhì cũng vẫn có thể ngạo mạn khinh người y hệt một vị tướng tài ba mắc chứng công thần. Nếu ta là người bình thường thì trên đời này chẳng có gì quan trọng lắm! Vậy thì ta cứ ung dung tự tại, sống cuộc sống của mình, làm những việc phải làm. Chúng ta thường nghe nói: "Cái khó nhất ở đời là biết dừng ở chỗ nào" và " Cái cần thiết nhất là biết mình". Người luôn nhớ mình là người bình thường sẽ dễ "biết mình" và cũng dễ "biết dừng".
Nhớ rằng mình phải là mình. Hễ cứ cố sống khác mình đi một chút thôi thì lòng ta đã không thanh thản. Hãy sống hồn nhiên như mình vốn có. Không đạo mạo, cũng không lên gân, lên cốt, là cách sống hợp với tự nhiên, vì cuộc sống không thể lúc nào cũng căng như một dây đàn đúng giọng. Mình phải là mình bởi không ai có thể thở bằng hơi của người khác. Có thể và cần phải học ở người khác rất nhiều điều, nhưng phải có cái của riêng mình để góp phần làm cho cuộc sống này đẹp hơn vì có sự đa dạng, vì không ai giống ai!
Nhớ rằng mình có thể sai. Tính có thể sai là bản chất của tri thức khoa học. Một học thuyết hay lý thuyết không chứa trong mình khả năng kiểm chứng thử - sai, chưa phải là một học thuyết ( lý thuyết) khoa học. Nữa là một con người trần thế, làm sao mà ta có thể luôn luôn đúng trong nhận thức cũng như trong thực hành. Bệnh hiếu thắng - vị thuốc độc trong quan hệ giữa người với người - bắt nguồn từ ý thức cho rằng mình không thể sai. Bệnh hiếu thắng luôn làm cho lòng mình không bình yên...
2/Ba quên
Quên tuổi tác. Tuổi tác đôi khi làm ta bận lòng. Cái vòng "sinh, lão, bệnh, tử" ai mà thoát khỏi. Càng già càng hay có vấn đề về sức khoẻ. Thường thì mãi đến lúc luống tuổi ta mới thấy sức khỏe là quý giá. Khi ngoài kia là trời xanh lồng lộng, nắng gió lung linh mà ta ngồi đây bất lực, mới thấy hối tiếc một thời trai trẻ vung phí sức lực một các liều lĩnh và dại dột. Rất may là chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, tuổi thọ của con người sẽ ngày càng cao hơn. Sắp đến rồi ngày mà: "Sáu mươi tuổi vẫn chưa già. Bảy mươi tuổi vẫn còn là trung niên". Hạnh phúc thay là có một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khoẻ mạnh. Vậy thì hãy quên đi tuổi tác. Sống vui, sống khoẻ để thanh thản tâm hồn.
Quên bệnh tật. Bệnh tật thường dày vò ta. Thế nên trong cuộc đời thường thì ta phải sáng suốt nhìn nhận tình huống nào là có thể tránh khỏi để dũng cảm vượt qua, tình huống nào là không thể tránh khỏi để bình tĩnh cam chịu. Đối với bệnh tật cũng vậy, đã lỡ mang bệnh tật rồi thì hãy gắng quên đi: hãy vui sống mỗi ngày bằng những công việc thường nhật có ích cho chính mình, cho những người thân yêu và cho đời.
Quên hận thù. Chỉ có những người giàu lòng vị tha mới biết quên thù oán. Họ không quá buồn phiền, oán giận khi nhận thấy ai đó quanh ta tỏ ta ích kỷ, vụ lợi, tráo trở hoặc vô ơn, bạc nghĩa. Họ ý thức được rằng trong bản chất tự nhiên của con người bình thường đều có thể có những "điều ác" ấy. Lòng nhân hậu, tính cương trực và thói quen nhớ ơn kẻ khác chỉ có được ở những con người có giáo dục. Họ thường nhắc nhở ta hãy độ lượng, hãy cố biện minh cho người khác mỗi khi ta bất bình. Và như vậy lòng mình sẽ thấy nhẹ nhàng hơn...
(Trích bài của GS Chu Hảo - Dân trí )

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2009

Phong trào ...đi đâu

Các Cụ , các bạn đâu hết rồi ... quay lại với Blog đi
Năm mới Kỷ Sửu chúc các Bạn Sức khoẻ - An khang - Hạnh phúc

Bình về cái sự ăn

Nhân dịp Tết - Phiếm đàm về cái sự ăn
Đối với động vật và thực vật, ăn là để tồn tại và phát triển. Không ăn thì…”Thánh cũng không sống nổi!”.
Cây cỏ cũng phải ăn, cho dù thức ăn là đất, là phân - Vậy hiển nhiên: “Ăn để mà sống” rồi! Ấy thế mà vẫn có người nói “sống để mà ăn!”. Đúng, sai thế nào, đến nay, cuộc tranh luận vẫn chưa ngã ngũ.
Ăn tưởng là việc đơn giản, ấy vậy mà phải học đấy. Người xưa dậy rồi: Miếng ăn được coi là “ngọc thực”, nhưng cũng có khi là “miếng nhục”! Ăn uống phải cho đàng hoàng, không nhai nhồm nhoàm, càng không “phùng mang trợn má” ăn lấy được. Phải chín chắn ngay cả trong việc ăn, đừng có “ăn sổi ở thì”. Miếng ăn còn phải sạch sẽ, “ăn chín uống sôi”, chớ “ăn sống ăn sít”. Có kẻ “ăn như mèo ăn”, nhưng cũng có người “ăn hùng hục như hổ đói”. Có người mời “gẫy đũa, gẫy bát” không chịu ăn; nhưng có kẻ cứ thấy đâu có ăn là sa vào liền, “tự nhiên như ruồi”!

Bên cạnh người “phàm ăn”, bạ gì cũng ăn; thì cũng có kẻ “kén cá chọn canh”. Có kẻ “ăn hoang phá hại”; lại có người có tiền có của đấy, nhưng vẫn ăn dè ăn sẻn, dành dụm phòng lúc khó khăn. Có người khi ăn cũng luôn nghĩ đến người khác: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, thấy nồi cơm đã vơi, thì dẫu bụng còn đói, vẫn hạ bát “vô phép các cụ, cháu ăn đủ rồi ạ!”; nhưng cũng không ít kẻ mặc thiên hạ, cứ một mình “chén tì tì”, “chén thủng nồi trôi rế”… - Tất cả đều là do tính cách, đạo đức con người tạo nên cả.
Cùng ăn chung một bữa tiệc, vậy mà nhiều khi vẫn có kẻ “ăn trên ngồi trốc” đấy - mâm của người thường gọi là “đại trà”, mâm của kẻ quyền chức, gọi là “vip”. Thế cho nên đã từng xảy ra chuyện, có thực khách đã xô ghế, văng tục bỏ về, khi phát hiện ra mình bị xếp ngồi mâm đại trà - “một miếng giữa làng” mà!
Lại có cả cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” nữa. Một gia đình nông dân, suất ăn hàng ngày chỉ đáng mươi ngàn đồng Việt Nam; ấy vậy mà có những “đại gia” sang Căm-pu-chia đánh bạc, mất một lúc vài chục ngàn đô la Mỹ, vẫn thản nhiên tiếp tục đi chơi… gái để giải hạn!
Cũng gọi là “Ăn”, nhưng lại không hề… nhai bằng răng. Không dùng răng nên ăn rất khỏe, rắn mấy cũng ăn, to mấy cũng cố nuốt. Đó là cách dân chúng “hình tượng hóa” cái tệ nhận hối lộ. Kiểu ăn này thì diễn ra quanh năm, nhưng sôi nổi nhất, táo tợn nhất, vẫn là dịp Tết, từ Tết Tây đến Tết Ta. Kinh tế suy thoái ở đâu, chứ không thấy ở cái kiểu “ăn” này! Về nguyên lý, thì người ta chỉ ăn khi đói. Nhưng rất nhiều “quan” ăn cả lúc no (mà họ thì có lúc nào không no?), thế mà chả bao giờ bị bội thực cả!

“Ăn” như vậy, cũng có sự phân biệt đấy: có loại ăn “sang”; không sang không ăn. Không ăn không phải là không ăn. Cứ chịu khó lo liệu đưa thật nhiều hơn nữa, thể nào “quan” cũng ăn. Không ăn, kẻ kể chuyện này xin cứ đi đầu xuống đất! Có loại ăn không sang, nhất là “quan” sắp về vườn thì phàm ăn và tạp ăn lắm. Bạ gì cũng ăn; sạch bẩn, to nhỏ, sang hèn; ăn tuốt! Ăn của thằng có tóc đã đành, nhưng thằng đầu trọc có việc tìm đến quan, thì dù nó chỉ có cái khố rách, mà rơi vào đúng lúc cần “tận thu”, “quan” cũng ăn. Các quan tham thường ngậm miệng mà ăn, nhiều khi ăn rất lớn mà vẫn “kín như bưng”. Thánh lắm! Người thường không dễ gì bắt chước được đâu. Cơ quan phòng chống tham nhũng cũng không dễ gì có được chứng cớ quả tang !

Trong cuộc sống, còn tồn tại khá nhiều kiểu “ăn” mà không phải ăn: như “ăn hiếp”, “ăn chặn” - kiểu hành xử bắt nạt người yếu (yếu lực hoặc yếu thế) của bọn côn đồ; như “ăn không nói có” hoặc “ăn có nói không” nhằm mục đích hại người lương thiện. Các quan tham hay có thói “ăn có nói không” lắm. Chứng cứ rõ mười mươi, quan vẫn chối bỏ… không “ăn”. Bí quá thì đổ tội đó cho phu nhân (đã có vị dùng cách ấy mà thoát mọi tội lỗi đấy, bởi “ai làm nấy tội”, quan tuy là chồng nhưng từ lâu đã ly thân, nên không thể chịu trách nhiệm! Đúng quá đi chứ, trường hợp như thế mà bắt quan chịu trách nhiệm thì oan ức cho quan quá, còn đâu là sự công minh chính trực nữa?!.)
“Ăn để mà sống” hay “sống để mà ăn”? - Phải chăng, chính là hai quan niêm này đã chi phối những hành vi “ăn” kể trên, của mỗi người chúng ta? Ngày Xuân, trước mâm cỗ Tết, xin lạm bàn đôi điều quanh cái sự ăn, cũng chỉ nhằm góp chút hương vị trào lộng cho không khí bữa ăn. Tuyệt không có ý gì khác, xin thưa!...
( Trích Dân trí .com)

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2008

Tin buồn

Mẹ bạn Đỗ Đình Nghĩa lớp ô tô K13 là:
cụ bà Trần Thị Soạn mất lúc 8h40 sáng nay 11/10/2008 TP. Hồ Chí Minh.
Quàn tại nhà tang lễ thành phố, 25 Lê Quý Đôn, TP Hồ Chí Minh
Lễ viếng được tổ chức từ 9h ngày 12/10/2008
Động quan: 6h ngày 14/10/2008
An táng tại Nghĩa trang thành phố.

Kính báo

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2008

Bia Hà nội

Bia bình dân, bia cao cấp
Tôi và mấy ông bạn bia thường rủ nhau đến một phố nhỏ trong khu phố cổ, cũng ngay gần nhà để uống bia. Hầu như vào các buổi chiều, chúng tôi đều có mặt ở đó. Đó là một quán bia vỉa hè, chiều chiều những chiếc bàn được bày la liệt ra vỉa hè. Quán này đúng nghĩa bình dân, loại bia được bán là bia Việt - Pháp, giá 3.500đ/cốc. Nhiều quán bia vỉa hè khác thì bán bia Việt Hà, giá 4.500đ/cốc, hoặc bia Hà Nội 6.000đ/cốc, chất lượng cũng bình dân và cả đồ nhắm cũng rất bình dân, gồm lạc rang, nem chua, mực nướng, bánh đa...Ở nơi đây có đủ loại người, từ những ông xe ôm, anh xe thồ, người buôn bán ở chợ và cả những viên chức tụ tập nhâm nhi sau giờ làm việc. Càng không thể thiếu đám thanh niên choai choai cụng ly ồn ào. Ngồi đây, ai cũng bình đẳng như ai, cùng vui vẻ thưởng thức cốc bia mát lạnh. Sự xô bồ, náo nhiệt, ngồi vỉa hè uống bia ngắm phố cũng chính là một nét riêng thu hút thực khách. Thực tế đó cũng cho thấy, việc quản lý kinh doanh trên vỉa hè Hà Nội đã bị thả nổi.Chuyện bia hơi vỉa hè là vậy, nhưng cũng phải kể tới các loại bia cao cấp. Để uống các loại bia cao cấp, bạn chỉ có thể tới nhà hàng. Ở đây, thường bán bia chai hay bia lon như Heineken, Carlsberg, Sài Gòn, Hà Nội... Nhiều người Hà thành vào quán thích uống bia tươi.Giá bia tươi bình dân như Halida Draught Master khoảng 9.000 - 10.000đ/cốc, cao hơn có bia Đỏ 13.000đ/cốc, bia Tiệp 35.000đ/cốc. Ngoài ra các loại bia vàng, bia đen đều có giá không hề rẻ - từ 15.000đ - 60.000đ/cốc. Các nhà hàng cao cấp loại này mấy năm gần đây đều mọc lên như nấm và lúc nào cũng đông nghịt khách. Từ thiết kế nhà hàng đến phong cách phục vụ và đồ ăn đều thể hiện đẳng cấp của nhà hàng.
Ai quản chất lượng bia?
Người uống bia sợ nhất là chất lượng. Bia rẻ tiền là loại bia không tên, thường gọi là bia cỏ, giá chỉ khoảng 1.500đ đến 2.000đ/cốc, do các cơ sở tư nhân sản xuất chui. Những loại bia này được bán trong các ngõ ngách của các khu lao động, khu ngoại ô Hà Nội. Rất nhiều người uống loại bia này đã phải chịu cảnh đau đầu, bí tiểu... Chúng được sản xuất ở hàng trăm lò nấu bia thủ công - rải rác ở rất nhiều nơi và rất khó để có thể kiểm soát chất lượng hay an toàn vệ sinh thực phẩm.Bia có tên cũng có nỗi sợ riêng. Tại các quán bia hơi vỉa hè, vào những thời điểm đông khách, do không đủ cốc, các quán bia thường tráng qua nước rồi sau đó lại dùng rót bia tiếp, nên thức ăn cũng như mỡ bám trên thành cốc không được rửa sạch cũng là một tác nhân gây ảnh hưởng tới sức khoẻ. Bia lại thường bị pha với bia cỏ, bia cũ, nên chất lượng ít khi đảm bảo như bia nguyên chất của các nhà máy.Còn các loại bia tươi, có một thực trạng là tại các xưởng bia tư nhân, vì lợi nhuận, họ chỉ ủ bia ít ngày mà không theo quy trình tiêu chuẩn. Ngoài ra, nhiều xưởng bia tư nhân dùng nước giếng khoan, còn men bia thì bị bớt xén đến mức tối đa để tiết kiệm, nên bia thường có vị đắng do chưa xử lý hết nhiều tạp chất độc hại.Không những thế, do ủ chưa "chín" nên hàm lượng cồn cao, các loại bia này cũng dễ gây đau đầu. Thậm chí, có rất nhiều xưởng bia không hề tráng rửa các thùng bia cũ mà cứ tiếp tục bơm bia vào rồi bán, thậm chí bia cũ trộn với bia mới, rồi thêm CO2 vào để bán.Dân sành uống bia chọn lựa cho mình những quán, những nhà hàng uy tín. Nhưng dân ghiền bia, dân ít tiền mà việc uống bia đã thành thói quen, thì những vấn đề như trên đối với họ chỉ là gió thoảng qua. Điều quan trọng nhất đối với họ vẫn là thưởng thức hương vị mát lạnh của bia và cùng tán dóc với bạn bè.

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2008

Chuyện rất ngắn: HỘP BÁNH TRUNG THU

Năm nay Bà ngoài tám mươi. Bà sống với vợ chồng thằng Hai ở Sài Gòn. Cô Út lấy chồng làm ăn ở tỉnh xa, hè mang con vô thăm Bà, mai sớm đưa thằng nhỏ về nhập học. Sáng đi ngang chợ Cũ "Sao Sài gòn có bánh Trung thu sớm vậy cà? Mới rằm Tháng Bảy". Út ghé mua hộp bánh biếu Bà.

Bữa cơm trưa.
Út nói: "Bà ăn bánh lấy thảo. Năm nay ăn sớm cho bõ thèm". Bà ừ: "Bây xắt bánh cho con gái thằng Hai ăn trước kẻo mấy bữa qua bển học không kịp ăn". Chị dâu nói: "Thôi đừng khui, để nguyên hộp lỡ bà có muốn cho ai".
...Ừa, cũng phải. Bà có mấy đứa cháu con ông cậu ở quê. Nhắm chừng tụi nó sắp lên là bà hay chừa quà bánh cho tụi nhỏ. Bà thương ông cậu từ thuở cha mẹ mất sớm, hai chị em nuôi nhau. Ông cậu cũng mất sớm do một thời tù Côn Đảo. Tụi nó tới giờ...

Bữa cơm chiều.
Bà ăn có lưng chén, chuyện ít hơn mọi bữa, hộp bánh còn nguyên trên bàn. Anh Hai về hay chuyện ngồi lặng thinh.

Buổi tối.
Chị dâu nói gì với con gái, hồi nó lại gần bà vòng tay: "Con xin nội cho con ăn bánh nha". Bà cười móm: "Ừa, xắt bánh mau đi con. Mơi em nó dzìa rồi!". Chị dâu pha bình trà cho cả nhà, Bà vui lắm.

Lúc đi ngủ Bà nói: "Mọi năm qua rằm con Út mới dám mua bánh Trung thu!".

Đỗ Nghĩa

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2008

Hà nội nay và xưa


Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2008

HAND in HAND

Một người bạn giới thiệu một videoclip ballet trên trang you tube, vở ballet được biểu diễn bởi hai diễn viên khuyết tật Ma Li và Zhai Xiaowei (TQ). Thấy nghị lực và khát vọng vươn lên của những người khuyết tật thật đáng khâm phục, xúc động đến nao lòng. Post lên để AE cùng theo dõi.


Thứ Năm, 17 tháng 7, 2008

Tiếp - "CAM DAI BAY"

Chỉ đọc cho qua nội dung của các bảng “cấm đái” đã đủ hiểu sự phong phú của tiếng Việt mình đến mức nào. Các bảng “cấm đái” có nhiều lời lẽ dài ngắn với cường độ khác nhau: từ lịch sự năn nỉ sự thông cảm như “Xin dừng đái nơi dây;” cho đến các lời cấm khô khan “Cấm Đái.” “Cấm không được đái;” cho đến lời đe dọa nặng nề có kèm theo cả các biện pháp chế tài (tưởng tượng) như “Cấm tuyệt đối không được đái. Vi phạm sẽ bi phạt nặng.” Dưới hàng chữ hăm dọa “phạt nặng” này lại ghi rõ tên các cơ sở có đầy đủ thẩm quyển như “Công an Phường…” Lời hăm dọa chế tài đôi khi còn được cho thêm “ấn tượng” với hình vẽ một con dao mà phần cạnh bén được sơn màu đỏ, có các giọt sơn đỏ (xem như) còn ướt nhỏ xuống giống như dao vừa mới được “làm việc” xong!
Thực tế rất phũ phàng các bác ạ. Tất cả các bảng “cấm đái” đều hòan tòan vô dụng bởi vì không hề thấy có bóng dáng công an cảnh sát nào ở gần đó để các làm các bác muốn đái bậy phải sợ. Công an còn đang bận “làm việc” gì đó mà họ xem là quan trọng hơn chuyện đái bậy. Phải lấy làm lạ là ở nước ta Người ta có thừa thời giờ “bịt mồm” dân mà lại không có thời giờ “bịt chim” của dân cho bỏ cái tật đái bậy!? Đây là chưa kể chính ngay Người ta cũng thường ra đái ở đây mới chết chứ!!! Óai oăm ở chỗ là các lọai bảng “cấm” này hình như có ảnh hưởng ngược lại (“reverse effect!”). Nó gần như có sức lôi cuốn và nhắc nhở mọi người rằng ở đây “đái đươc không cấm” (các bác thử đọc ngược từng chữ một của câu “cấm không được đái” từ phải qua trái xem sao?!) Quang cảnh “đái đường” mới thật là một bản bi hài kịch dài vô tận không bao giờ hạ màn. Nhà cháu chứng kiến cảnh một thanh niên ăn mặc khá bảnh bao, áo bỏ trong quần hẳn hoi, cầm tay đào đi dung dăng dung dẻ trên hè phố rất mùi. Bổng nhiên anh ta quay qua nói với cô bồ câu gì đó (nhà cháu đóan non đoán già là “Anh mắc… quá! Chờ chút xíu để anh…”). Thế là anh ta để cô đào đứng tuỗn ra ở bên lề đường; anh ta quay buớc vào bức tường gần đó rồi xả bình tự nhiên như con “kiki” của nhà cháu lúc nó buồn tình đi vòng vòng “marking territory” chơi chung quanh xóm vậy. Sau khi đóng nút quần xong xuôi, anh chàng ta đi trở ra cầm tay đào (yuck!) và dung dăng dung dẻ tiếp như không có chuyện gì xẩy ra! Hãi thật! Sao có thể như vậy được! Phải có người nào ở chung quanh đó nói lên một tiếng chứ! Hay ít nhất cô đào thơ mộng của anh ta dù không tiện nói cái gì nhưng cũng nên tạm thời không cho cầm tay chứ! Trong một dịp khác, nhà cháu thấy có một ông vào tuổi sồn sồn có vẻ bệ vệ của một đại gia (?) mặc “vét tông” lái xe ô tô rất “xịn,” đột ngột dừng xe lại bên lề đường, một tay vạch quần đái vào tường tỉnh bơ con sáo sậu; trong khi tay kia vẫn đang cầm điện thọai di động và miệng thì vẫn đang bi bô ra chỉ thị (qua điện thọai) cứ như đang “làm việc” ở văn phòng riêng!!! Việt Nam ta vào thời kỳ “đổi mới” có khác! Cũng còn may là các thành phố ở Việt Nam không có mùi phân chó; bởi vì chó không đủ cung cấp cho các tiệm nhậu. Dân nhậu nhìn thấy chó còn sống đi ngang qua mặt là đã thấy chẩy nước miếng rồi. Lấy đâu ra chó sút chuồng đi rong đái bậy, “marking territories?” Nếu có đi nữa thì đây là lọai chó chán sống; chỉ tổ bị hàng xóm lén đập đầu bắt cóc nấu rượu mận “chui” ngay tức thì! Thật tình, vào thời buổi “đổi mới,” “kinh tế thị trường,” “định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ thấy đến chó cũng phải hồi hộp khó sống, nói chi đến thường dân !Dân số nước ta càng lúc càng tăng nhanh, vấn đề đái bậy mỗi ngày sẽ càng trầm trọng hơn. Xin các bác các thím có thẩm quyền, có quyền cao chức rộng hãy ra lệnh cho tạm giảm bớt các chương trình hoa mỹ tuyển lựa “ca sĩ,” “hoa hậu…,” “kỷ niệm chiến thắng…” giảm xây cất các tượng đài kỷ niệm vô tích sự hao tổn công qũy và bắt đầu quan tâm hơn đến các vấn đề thực tế sát với đời sống hàng ngày của dân, xả rác, cống rãnh, giao thông “ùn tắc…” Nếu không bắt đầu từ bây giờ thì đợi đến lúc nào?Tóm lại, “nhà xí công cộng” thực sự là cái thuớc để đo sự trưởng thành của một dân tộc. Dân chúng không cần các tượng đài hùng vĩ mà cần các nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ chẳng riêng cho người bình thường mà cả trẻ em, người già và ngưới tàn tật cũng có thể xử dụng được. Ở đó nhân viên của nhà vệ sinh được dùng không phải là để ngồi trước của thâu tiền; mà lo dọn dẹp cho sạch sẽ bên trong. Hay là nhà cháu mạo muội đề nghị là nhà nước ta nên xúc tiến ngay một chương trình xây cất hàng lọat các nhà xí công cộng miển phí trong nước đồng thời người dân nào đến sử dụng (thay vì phải đi đái đường) còn được phát một món quà nhỏ tượng trưng - chẳng hạn như được tặng miễn phí một ổ bánh mì thịt sau mỗi lần thăm viếng! Nếu đất nước đạt được cái “chỉ tiêu” đó thì thiên đường chắc cũng chỉ đến thế mà thôi!

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008

"Cam dai bay"

Có nhiều chuyện xẩy ra trong đời sống một cách tự nhiên; chẳng hạn như đi ngủ và đi… tiểu. Các chuyện được xem là tự nhiên sẽ không còn gì là tự nhiên nữa nếu chúng ta bắt buộc phải quan tâm đến nó. Hơn thế, vấn đề bài tiết của cơ thể thật tình không có gì hấp hẫn, thú vị để đề cập đến; nhưng để “tự nhiên” cho đến mức độ mà cả xóm, thành phố, cả nước hôi mùi… nước đái thì vấn đề “nặng mùi” này phải là một phần trách nhiệm của từng công dân, của người lãnh đạo, của người vẽ, hoạch định chính sách của nhà nước - một vấn đề to tát của quốc gia chứ không phải chỉ riêng gì chuyện bầu cử quốc hội, tổng thống, chủ tịch nhà nước… chuyện chống lạm phát kinh tế… chuyện chống tham nhũng…!!
Từ thuở hoang sơ, dân số còn ít và con người còn sống raỉ rác thì “tiểu đồng” không bao giờ là vấn đề. Thực ra, vào thời xưa, vì phương tiện để gỉai trí còn rất thiếu thốn, thì tiểu đồng là một cái thú thật thuận tiện và không tốn kém của nhân lọai. Còn gì thích thú cho bằng vừa đứng xả bầu tâm sự giữa ánh nắng ban ngày vừa nghe chim hót và tiếng gió thổi rì rào chung quanh. Có lẽ thời nay chỉ có “ngồi cầu cá dồ” là có thể tạm so sánh được thôi! Nhưng mà hôm nay, thế kỷ 21, con người sống chen chúc nhau trong các thành phố đông người, thiên nhiên không thể nào bao dung rông lượng với con người như lúc xưa. Vấn đề đái đường, tường, gốc cây, góc phố, góc kẹt… phải cần xét lại. Ngòai lý do dơ bẩn, nguồn gốc của nhiều bệnh tật… nó vừa, một mặt, tè lên danh dự của dân tộc khi du khách ngọai quốc nhìn thấy… nó cũng vừa là dấu hiệu gián tiếp bảo họ (du khách) “đừng nên trở lại đây nữa!” Buồn chưa!
Trước hết nói về người đái bậy. Đã có người tranh luận là “À! Nếu mót quá mà không có nhà vệ sinh công cộng nào ở gần thì làm sao bây giờ?” Nhưng phải thành thực công nhận là trong số người hay đái bậy, đại đa số là đàn ông! Tại sao vậy? Có phải là các bà nín giỏi hơn các ông? Các “chuyên gia” về đái đường không đồng ý như vậy. Họ nói là các bà không “cẩu thả,” “lười biếng” và “vô trách nhiệm” như các ông (?) Các bà không hay uống rượu (bia), cà phê, trà… đại lọai những thứ làm cho bàng quang đầy tràn bình mau hơn. Ngòai ra, vì lẽ việc thải nước thừa trong người ra ngòai, các bà thường phải cần có nhiều thời giờ hơn, phải cần chỗ kín đáo hơn. Họ không thể đứng tô hô giữa thiên thanh bạch nhật rồi “hit and run” như đàn ông cho nên họ phải cẩn thận hơn. Các bà chỉ đi chợ, shopping… những nơi mà họ biết có nhà vệ sinh công cộng có thể dùng được… trong khi các ông lại ít quan tâm đến các yếu tố lặt vặt mà rất cần thiết này. Vậy đề nghị các bác trai nên bỏ bớt chút ít thời giờ nhậu nhoẹt để học cái “bí quyết thần kỳ” này của các bác gái nhé!
Bây giờ nói rộng hơn về vai trò “dân trí” và “văn minh” của dân tộc (dĩ nhiên là trong vấn đề đái bậy!) Có rất nhiều người, trong đó có cả nguyên thủ của các quốc gia như Singapo, Đài Loan, Đại Hàn… đã từng tuyên bố nhiều lần đại khái là:“Nếu muốn xét trình độ văn minh của một dân tộc xem nó đến mức độ nào thì chỉ việc nhìn vào nhà vệ sinh công cộng của họ là đủ!”(The public toilet is to reflect the civilization index of each country. It also reveals the country’s civilization level and quality of life). Ngạn ngữ Nhật bản có câu:“Nhà vệ sinh (buồng tắm) là một phần của đời sống. Chỉ nhìn vào buồng tắm của một gia đình là biết rõ gia đình đó như thế nào: họ có sống ngăn nắp không? có chăm sóc nhà cửa con cái của họ thích đáng không?”Nếu có lời nói nào đơn giản và dễ hiểu hơn về vấn đề văn minh của dân tộc thì xin các bác làm ơn mách dùm cho cháu biết với? Người Nhật quan niệm đúng theo cái nghĩa “tề gia trị quốc” của dân Á châu chịu ảnh hưởng Khổng Mạnh. Đúng vậy! Nhà ở mà giống như đống rác thì đái đường có gì mà phải ngạc nhiên?
Vì vấn đề cắt giảm ngân sách, giảm chi phí cho tiện nghi công cộng, nhiều thành phố hoa lệ nổi tiếng trước kia như Paris, New York…, nay rất nhiều du khách đã phải lớn tiếng than vãn về “mùi nước tiểu” (New York’s subway systems và các đường hẻm - alleys…) và “phân chó.” (Paris ngòai vấn đề thiếu nhà vệ sinh công cộng còn bị 200 ngàn con chó tự do sản xuất 160 tấn phân mỗi ngày trên đường đi mà thành phố không đủ nhân lực, phương tiện để dọn dẹp!).Dầu có che mắt bịt mũi, cũng phải công nhận rằng có sẵn phương tiện và khả năng xây dựng lên các nhà vệ sinh công cộng đã là một chuyện đại sự rồi; phải giữ gìn bảo trì chúng cho sạch sẽ ở mức độ chấp nhận được đòi hỏi ngân sách to lớn và sự ý thức, sự tham gia, sự giáo dục, sự thành tâm hợp tác giữa chính phủ và quần chúng… Kích thước của vấn đề này chỉ nghĩ đến thôi cũng có thể bí đái rồi… nói chi đến chuyện thi hành…
Bây giờ nói về đất nước Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc của mình. Nhà cháu xin nói rõ đây không phải là vấn đề vạch áo cho người xem lưng, hay bôi xấu dân tộc mà là bảo nhỏ với nhau bằng tiếng Việt đàng hòang! Đã có nhiều bác quá khích hấp tấp (nếu chưa nói là vô phép) văng tục một cách vô trật tự là “Việt Nam với 4000 văn hiến đâu chẳng thấy mà chỉ thấy 4000 năm đái đường!” Nhà cháu xin nhờ các bác nóng tính này một tí! Nhìn qua các chương trình đã và đang thực hiện trong thời buổi “đổi mới,” chúng ta thấy các khách sạn 5 sao, dinh thự “hòanh tráng” của các tay nhà giầu mới (mặc dù lương căn bản mỗi tháng của nhiều người chủ của cơ sở này không quá 200 đô la?), tượng đài hùng vĩ (kể cà công trình xây “lăng tẩm” cho người chết ở thế kỷ 21!) mọc lên như nấm… nhưng lại thấy thiếu bóng các xây dựng khiêm nhường, nhỏ bé nhưng cần thiết hơn nhiều. Đó là: “nhà xí công cộng.” Cứ tưởng tượng quang cảnh tương tự như là trong việc thi hành đường lối “đổi mới,” Việt Nam đã xây dựng rất nhiều ngôi nhà (không vệ sinh!?) to lớn nhưng không hiểu đầu óc của giới lãnh đạo “định hướng” thế nào mà quên không cho vào “bàn cầu” một cái lỗ!!! Thật là chuyện “ tùm lum!” Việt Nam đã có cách mạng (nghĩa là thay đổi tất cả những cái cũ) vô sản vinh quang “thành công” rồi; nay lại muốn thay đổi tòan diện (“đổi mới”) thì chỉ có cách “đổi thành cũ” mới đúng chứ! Chữ với nghĩa! “Nói xuôi cũng được, nói ngược cũng hay!” “Nói đi cũng phải, nói lại cũng dễ nghe!”
Tại các thành phố lớn, số bảng “Cấm Đái,” nếu các bác rảnh hơi chịu khó đếm ra cho có con số chính xác, còn thấy nhiều hơn cả các bảng, biểu ngữ ca ngợi sự lãnh đạo sáng suốt của Bác và Đảng. Các bảng lọai này nhiều đến mức độ làm cho du khách ngọai quốc phải hiểu lầm như trong trường hợp có thật đã xẩy ra cười ra nước mắt như sau: Một du khách tây phương hỏi anh hướng dẫn viên du lịch (tour guide) ở Việt Nam: - “Tôi đã đến Việt Nam nhiều lần. Ở Việt Nam có hai vịnh (“bay”) rất nổi tiếng mà tôi đã đi thăm. Đó là: "Ha Long Bay" và "Cam Ranh Bay." Nhưng còn một vịnh tôi thấy quảng cáo rất nhiều, ở trên tường, cây đại thụ bên đường, trong hẻm. Mà nó nằm ở đâu vậy? Anh có thể dẫn chúng tôi đi thăm được không?” Anh hướng dẫn viên vội hỏi: - “Xin ông cho biết tên của cái vịnh đó là gì?” Ông khách chỉ lên bức tường bên đường rồi bập bẹ đánh vần : - “CAM DAI BAY!”
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2008

Sự mầu nhiệm của thở

Có thể xem con người gồm hai phần chính là thân và tâm. Con người hạnh phúc khi thân và tâm đều yên ổn. Người ta không thể yên ổn nếu thân và tâm không về với nhau: thân sống trong hiện tại mà tâm nghĩ về quá khứ thì dễ sinh nuối tiếc, buồn khổ; thân sống trong hiện tại còn tâm nghĩ về tương lai thì thường kéo theo sợ hãi, lo âu. Nếu tâm và thân về với nhau thì con người sẽ yên ổn: yên tâm và yên thân. Một trong những cây cầu đưa tâm về với thân là hơi thở.

Khi khó ngủ, ta thường nghĩ ngợi mông lung về quá khứ, tương lai, làm đầu óc căng thẳng, mệt mỏi. Khi đó, bạn tập bài thiền sau: 1-Thở vào nhè nhẹ và ý thức đây là hơi thở vào; thở ra, biết rằng đây là hơi thở ra (làm ba lần). 2-Thở vào nhè nhẹ, theo dõi hơi thở vào từ đầu đến cuối; thở ra nhè nhẹ, theo dõi hơi thở ra từ đầu đến cuối (làm ba lần). 3-Thở vào, ý thức toàn thân; thở ra, buông thư toàn thân, ý thức rằng mình đang trút bỏ mệt mỏi, căng thẳng (làm ba lần). Khi tập, đối tượng của ý thức bây giờ chỉ là hơi thở, không để cho tâm ý gián đoạn, buông bỏ hết mọi suy tư.

Nếu tập đúng cách, chỉ trong giây lát, tâm bạn đang phiêu du đâu đó lập tức trở về với thân, và hơi thở đã cắt đứt suy nghĩ của bạn với quá khứ, tương lai. Tập như vậy khoảng 5-10 phút, bạn sẽ chìm vào giấc ngủ. Giờ giải lao ở nơi làm việc, lúc ngồi chờ tàu xe, bạn có thể nhắm mắt, tập thở như trên vài phút để thư giãn.

Trong cuộc sống, nhiều người không biết xử lý cảm xúc mãnh liệt của mình khi khổ đau vì thất vọng, sợ hãi hay giận hờn... Nếu biết ngồi xuống trong tư thế hoa sen và tập "thở vào/ tôi thấy tôi là trái núi; thở ra/tôi cảm thấy vững vàng", thì họ có thể vượt thoát khỏi thời khắc hiểm nguy đó...

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã viết: "Thiền là đem tâm trở về với thân, đem tâm trở về với tâm, để giúp ta thiết lập được thân và tâm trong giây phút hiện tại... Không phải chỉ trong tư thế ngồi thiền ta mới làm được chuyện này. Khi ta giặt áo, tưới rau, lái xe, rửa bát, đi cầu... ta cũng có thể đặt mình trong trạng thái thân tâm nhất như ấy". Trong cuốn An lạc từng bước chân, ông dạy cách thiền khi uống trà, khi ôm, khi lái xe, khi ăn, khi nghe điện thoại; ông cũng dạy cách dùng hơi thở để điều phục cơn giận, thực tập nhìn sâu... và ông kết luận thiền là yếu tố không thể thiếu trong các gia đình văn minh.



Moon River

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2008

Chuyện con gà

Bản 1 – (mầu sắc miền Bắc).
“Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, tôi có con gà mái vàng. Sáng nay tôi còn cho nó ăn, thế mà bây giờ nó bị mất ! Ai bắt được thì cho tôi xin, nếu không trả thì tôi chửi cho mà nghe đấy… ấy… ấy !Bố cái thằng chết đâm, cha cái con chết xỉa ! Mày day tay mặt, mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây con gà. Này bà bảo cho chúng mày biết: Thằng đứng chiếu ngang, thằng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế, thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn… Con gà nó ở nhà bà là con gà. Nó bị bắt trộm về nhà mày thì thành con cú, con cáo, con thành đanh mỏ đỏ, nó sẽ mổ mắt, xé xác ông, bà, cha, mẹ, vợ , chồng, con cái nhà mày đấy… ây… ấy !Mày mà ăn thì con gà nhà bà thì ăn một miếng chết một đứa, ăn hai miếng chết hai đứa, ăn ba miếng chết ba đứa, và ăn cả con gà đó sẽ chết cả nhà cả ổ nhà mày.Cha tiên nhân ông nội, ông ngoại, ông dại, ông khôn, đồng môn chi rễ nhà mày nhá! Mày gian tham đã ăn trộm ăn cắp con gà mái nhà bà. Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau. Chết mau, chết sớm ! Chết trẻ, đẻ ngang nhá.Bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng, đưa đám tang cả nhà mày ra đồng làng chôn đấy. Mày có khôn hồn, mang trả ngay con gà đó cho bà, kẻo không bà đào mồ, quật mả cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỉ, thúc, bá, đệ, huynh, cô, dì, tỷ, muội nhà mày đấy.Hôm nay bà chửi một bài, ngày mai bà sẽ chửi hai lần liền. Bà chửi cho mày hóa điên, bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng. Bây giờ bà mệt quá chừng, bà về cơm nước, nhớ đừng quên a… Muốn sống thì thả gà ra, lạy bà hai lạy, bà tha cho mày
Bản 2 – (màu sắc Miền Trung, xứ Huế):
Cao tằng tổ đĩ, cao tằng tổ khảo, cố tổ gia tông cả ông, cả bà, cả cha, cả mẹ, chú bác, anh em, họ nội họ ngoại, xa gần ân ái, họ gái họ trai, dưới âm phủ đội mũ mà đi lên, trên thiên đàng xếp hàng đi xuống, bây hãy vén mái tai, gài mái tóc, đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tao chửi đây này:Tam canh mụ đội, xóm hội xóm phường, xóm trước xóm sau, xóm trên xóm dưới, lư hương, bát nước, chiếu trải giường thờ, tau bới mả cha bay rung rinh như thuyền mành gặp sóng, tau nín như nín địt, tau dập như dập cứt mà bay cứ bươi ra, bay chọc cho tau chửi. Tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn khiếp, cái quân vô hậu kế đợi đã ăn của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng. Bây ăn chi mà ác nhơn ác nghiệp. Bây ăn bằng nồi đồng, bây ăn bằng nồi đất, bay ăn lật đật, bay ăn ban đêm, bữa túi. Bây ăn cho chồng bây sợ, cho con bây kinh, bây ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bây chết hết để một mình bây ngồi đó bây ăn. Đồ quân ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột. Cái quân không sợ trời đánh thánh đâm, trời đánh thánh vật. Bây ăn mần răng mà hết một chục rưỡi con gà?
”Bản 2 “bis”
- Và đây thêm một vài câu cũng với bản sắc của đất Huế để quí vị rộng đường “tham khảo”:“Cha cố tổ mười đời cha bay. Bây ăng chi mà ăng ác rứa? Bây tham chi mà tham vô hậu rứa? Cứ sáng sáng mấc cái thóng, đứng bóng mấc cái niêu, chiều chiều mấc lẻ củi, túi túi mấc con gà. Diều dọi chi cho cam, một bầy ba cong gà xám, tám cong gà vàng, rứa mà hắng ăng mất môột cong, chừ đếm đi đến lại, coòng mười môột con. Bay ăng chi mà ăng vô hậu rứa ? ….
”Bản 2 “bis, bis”
“Hôm qua tau mất con gà mái dầu khoang cổ. Hôm ni tau mất con gà mái nổ khoang bông. Con mô bắt là gái trốn chúa lộn chồng. Thằng mô bắt là đàn ông ba đời đi ở đợ… Tụi bay hãy vén mái tai, gài mái tóc, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp mà nghe tao chửi… Bay ăn cho chồng bay sợ, cho vợ bay kinh, bay ăn cho ngã miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết, để một mình bay ăn.
”Phần chửi thêm (Extra / Bonus)(Cách chửi này văn minh hơn một chút, có thêm phần “tân tóan học!!!” Đọc cho vui !!! hihi…)
1- “Tiên sư đứa nào bắt mất con gà nhà bà, gà ở nhà bà con công con phượng, gà về nhà mày thành con cáo con diều hâu. Bố mày là A, mẹ mày là B, bà cho vào ‘ngoặc’ bà ‘khai căn’ cả họ nhà mày. Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu. Sau khi bà ‘khai căn’ cả họ nhà mày xong rồi, bà ‘tích phân n bậc,’ bà bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà ‘đạo hàm n lần.’
”2- “Ái chà chà ! Mày tưởng nuốt được con gà nhà bà là mày có thể yên ổn mà chơi trò ‘cộng trừ âm dương’ trên giường với nhau à. Bà là trị cho ‘tuyệt đối’ hết cả họ chín đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là ‘vô nghiệm,’ cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi. Bà sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong ‘âm vô cùng,’ sẽ gặp tai ương đến ‘dương vô tận,’ cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến “maximum” của sự ‘vô hạn’ tối tăm.
3- “Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò ‘tiệm cận’ hàng rào nhà bà là bà không biết đấy à ? Bà là bà ‘giả thiết’ mày ăn cắp hơn hai chục con gà nhà bà, mày về mày vỗ béo để nhồi ‘đường cong’ cho con vợ mày, à... à… mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đi. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi ‘đường cong’ của con vợ mày nó nứt toác, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ ‘vuông góc’ một mạch thẳng xuống ‘góc tủ.’
“Phần phụ diễn:Bây giờ, để cho câu chuyện chửi có vẻ “bình quyền, bình đẳng,” thử đổi lời chủi của “Bà Mất Gà” thành lời chửi của “Ông Mất Ngỗng” để nghe xem cái giọng chửi nó khác nhau ra làm sao nhé (???):“Tiên sư đứa nào bắt mất con Ngỗng vàng nhà ông, Ngỗng ở nhà ông là con công con phượng, Ngỗng về nhà mày thành con cáo con diều hâu. Bố mày là A, mẹ mày là B, ông cho vào ngoặc ông ‘khai căn’ cả họ nhà mày. Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu. Ông ‘khai căn’ cả họ nhà mày xong rồi, ông ‘tích phân n bậc,’ ông bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà ‘đạo hàm n lần.’ Ái chà chà, mày tưởng nuốt được con Ngỗng nhà ông là mày có thể yên ổn mà chơi trò ‘cộng trừ âm dương’ trên giường với nhau à. Ông là trị cho tuyệt đối hết cả họ chín đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là ‘vô nghiệm,’ cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi. Ông sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong ‘âm vô cùng,’ sẽ gặp tai ương đến ‘dương vô tận,’ cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến ‘maximum’ của sự ‘vô hạn’ tối tăm Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò ‘tiệm cận’ hàng rào nhà ông là ông không biết đấy à ? Ông là ông ‘giả thiết’ mày ăn cắp hơn hai chục con Ngỗng vàng nhà ông, mày về mày vỗ béo để nhồi ‘đường cong’ cho con vợ mày, à... à… mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đi. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi ‘đường cong’ con vợ mày nó nứt toác, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ ‘vuông góc’ một mạch thẳng xuống ‘góc tủ.’
”Hình như là cái “âm điệu” chửi của mấy ông không “hay” bằng của mấy bà (?)

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2008



Một gốc cây lạ, lá giống như cây bông giấy.

Thư giãn cuối tuần.

Cây giống cây Sanh, Si bên mình, không biết người ta ghép kiểu gì và bao lâu mới được như vậy.

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2008

Văn hoá Chửi

Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi sao chưa có nhà văn hoá nào nghiên cứu về cái sự “Chửi” nhỉ ?. Hôm nay ngồi buồn tôi mở máy vi tính, thử mở “Từ điển Lạc việt năm 2002”, tra hú hoạ chữ Chửi xem sao. Đây là cuốn từ điển Việt Anh, mà lại dùng cho máy vi tính, tôi nghĩ, có lẽ chẳng có chữ ấy đâu, may lắm thì có một chữ Chửi đơn giản là cùng.

Tôi nhầm! Các từ về Chửi xếp đầy một trang màn hình !
Này là Chửi mắng, Chửi bới, Chửi đổng, Chửi nhau, Chửi rủa, Chửi thầm, Chửi thề, Chửi tục! Lại còn Chửi bâng quơ, Chửi vu vơ, chửi thậm tệ! Chưa hết, có cả Chửi bóng Chửi gió, Chửi chó mắng mèo, Chửi như tát nước, Chửi như vặt thịt, Chửi vuốt mặt không kịp nữa! Ngần ấy chữ Chửi đều có những động từ hay cụm từ tiếng Anh tương ứng. Hoá ra người Anh người Mỹ họ cũng chua ngoa, cũng điên tiết gớm chứ đâu có vừa (nhưng các “đế quốc to” ấy nhất định thua xa mình về cái khoa Chửi, kể cả Chửi đáng khen và Chửi đáng chê).
Cuốn từ điển còn thiếu một khái niệm Chửi tối quan trọng : Chửi như mất gà ! Rất may, tìm mãi mới thấy cụm từ Chửi này có trong từ điển Việt Hoa của Khổng Đức.
Nhưng rốt cuộc thì từ điển gì, chữ nghĩa gì cũng thua bà cô tôi hết, một người dân quê không biết một chữ quốc ngữ bẻ làm đôi……Đọc tiếp

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2008

Tiếp - tản mạn SG-HN

Một nhịp của toàn cầu hóa chính là việc tự kiến tạo bản sắc của mỗi người hay từng nhóm người qua sinh hoạt, tiêu dùng, dựa vào những nhãn hiệu, thương hiệu tự chọn, tự chế biến. Tính cách xuyên vùng văn hóa là một trào lưu không tránh khỏi.
Trong bối cảnh đó, tôi tin rằng nhãn hiệu Sài Gòn có vẻ như được dùng để mô tả những gì có phần mới lạ, hiện đại hơn những thứ vịt gà hay cơm cháo kể trên.
Nó nằm trong dòng trở lại những cái tên thời Pháp, thời Mỹ mà người nước ngoài dùng để đặt cho khu vực này. Cứ để ý sẽ thấy những chữ như Indochine, thậm chí Tonkin hay Orient nay được dùng khá nhiều trong mảng liên doanh, đầu tư du lịch.
Nhưng cách dùng hai từ Sài Gòn không chỉ có vậy.
Theo tôi, trong trái tim người Hà Nội và những người mang tâm thức Bắc Hà chân chính, Sài Gòn luôn chiếm một vị trí đầy tình cảm. Cảm giác vừa tự hào vì đó là miền đất cha ông gây dựng được, vừa thương, vừa nể, vừa mặc cảm có lỗi gì đó với Sài Gòn, nhất là vì giai đoạn sau 1975, luôn bâng khuâng trong tâm trí.
Kể từ thời Pháp, rồi sang đến thời đất nước bị chia làm hai, Sài Gòn là nơi người Bắc hướng đến.
Cảnh Sài Gòn nhìn từ một cao ốc gần trung tâm thành phố
Trong làn sóng mở cửa, người Hà Nội, cả gốc Hà thành và những người đến sống một hai thế hệ nhưng hấp thụ văn hóa Thăng Long, đã và đang chứng kiến một cuộc xâm nhập ào ạt, nóng hổi thời Đổi Mới của quan chức và người dân các tỉnh. Lúc đó, họ lại càng thầm thông cảm với tâm trạng của người Sài Gòn sau 1975.
Bây giờ dù mức sống hai thành phố đã không còn khoảng cách xa như thập niên 70, với người Hà Nội thì Sài Gòn xưa và nay, vẫn đậm chất Pháp, chất Mỹ và nét miền Nam ngày trước.
Với cả nước, đây vẫn là cửa ngõ lớn nhất hướng sang Hoa Kỳ vì chỉ người Sài Gòn mới thực sự có liên hệ gia đình đông đảo với khối Việt Kiều ở Bắc Mỹ, còn quan hệ với Phương Tây của Hà Nội vẫn nặng tính quan chức, ngoại giao.
Nhưng cũng phải nói rằng trong tình cảm dành cho Sài Gòn, người Hà Nội cũng có đôi điều ghen tị pha lẫn tự hào riêng về phong cách người ta cho là thuần Bắc.
Ý thức hệ cộng sản - tư bản và cuộc chiến vài chục năm trước giữa hai chính thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình bản sắc hai thành phố. Chính vì thế, người ta đã phản ứng mạnh trước những lời chê bai Hà Nội một cách thô ráp của một cô bé blogger từ Sài Gòn ra hồi 2007.
Chính trị Việt Nam là chính trị Hà Nội và sẽ còn như thế trong nhiều năm tới. Nhưng theo tôi, sự cạnh tranh, đi cùng giao lưu giữa hai đô thị này sẽ còn tăng, với Sài Gòn trở thành một điểm đối trọng quý báu và cần thiết.
Và như sự trở lại Hà Nội một cách tự nhiên của cái tên Sài Gòn cho thấy, việc xích lại gần nhau không đến từ những mệnh lệnh chính trị, mà từ sinh hoạt của người dân, từ các dòng chảy của văn hóa của ẩm thực sôi động.
Ra phố Vọng buổi tối, thấy tấm biển sáng choang "Tẩm quất Sài Gòn" thì tôi cũng "choáng" luôn. Đấm bóp kiểu Sài Gòn là kiểu gì thế, có đê mê hơn kiểu Thanh Hóa hay Nghệ Tĩnh? Hai chữ Sài Gòn đã đi vào tận da thịt người Hà thành thế này thì chỉ còn cách ngả mũ chào sức sống dân gian!

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2008

Sức nén ngôn từ

Để khen nhau mà nói “hơi bị đẹp đấy” thì đã lạ rồi, nhưng tấm tắc khen nhau “hơi bị đểu đấy” thì các cụ nhà ta sống lại chắc không tài nào hiểu nổi bọn con cháu định nói gì.

Bởi nó “ngược đời” !
Bởi đó là kiểu ngôn từ đã bị lộn ngược !

Thứ ngôn ngữ lộn ngược này, tuỳ theo tạng của mỗi người, ta có thể thích hoặc không thích, nhưng sự tồn tại một cách rất có sức sống của nó khiến tôi giật mình. Hegel chẳng nói : cái tồn tại là cái có lý đó sao ?

Mà có lý thật.

Hãy nói về chữ “Bị”. “Bị” vốn là một từ biểu hiện ý niệm thua kém, tiêu cực, như bị thua, bị xấu, bị lỗ vốn, bị khinh … Nhưng nay lại có “bị đẹp” , “bị ngon” , “bị tuyệt vời” … thì thật trái khoáy !. Lạ nữa là nếu thêm một từ chỉ sự hạn chế như “hơi” (nghĩa là chỉ một chút thôi) thì giá trị muốn khen lại còn tăng lên gấp bội. Hơi bị đẹp là rất đẹp. Hơi bị tuyệt vời là tuyệt vời vô cùng….. Đọc tiếp ở đây

Tản mạn về Hà nội và Sài gòn

Trên chuyến bay ra Bắc, tôi mở tạp chí Heritage của Vietnam Airlines ra đọc và ngạc nhiên thấy địa danh Sài Gòn được dùng rất tự nhiên, như thể đấy mới là tên gọi chính thức của đô thị lớn nhất Việt Nam.
Không kể bài về khu Nam Sài Gòn, các bài khác về chủ đề văn hóa, xã hội đều gọi Sài Gòn một cách bình thường. Thậm chí có bài song ngữ, phần tiếng Việt viết "Sài Gòn" còn bản tiếng Anh lại để là TP Hồ Chí Minh.
Ra đến Hà Nội, ngồi lên taxi thấy ngay trước mặt dòng chữ "Taxi Sao Sài Gòn" và nghe người lái hỏi: "Anh ở Sài Gòn ra?". Đi qua ga Hàng Cỏ thấy dòng chữ chạy trước mắt trên bảng điện tử: "Tuyến tàu Hà Nội - Sài Gòn".
Ta đi Sài Gòn
Gần như chính thức cái tên Sài Gòn cũng trở lại mặt báo, trên truyền thông, trong giao thông công cộng. Chỉ có đi máy bay thì vẫn nghe đều đặn "Hàng khách đi chuyến bay VN...đi TPHCM ra cửa số...".
Phải chăng tàu hỏa thì bình dân hơn nên dễ "Sài Gòn hóa" hơn phi cơ vốn nhiều quan chức bay đi bay lại? Nhưng ra khỏi Việt Nam hay bay về nước thì lại thấy ngay ký hiệu chuyến bay từ lâu nay vẫn là SGN. Lịch sử quả là kỳ lạ.
Thực ra, theo tôi biết, việc dân chúng sống ở phía Nam và nhất là trên địa bàn TPHCM đã có những cách dùng hai chữ Sài Gòn hay gọi tên thành phố này theo kiểu riêng của họ từ lâu nay.
Nhưng tại Hà Nội, việc Sài Gòn trở lại trong ngôn ngữ và báo chí, văn hóa có phần mới và đậm nét đáng chú ý.
Nếu để ý kỹ thì sẽ thấy việc dùng cách tên ngoại tỉnh hay ngoại quốc ở Hà Nội là một trào lưu có từ mấy năm nay.
Hà Nội nay đang mở rộng ra nhiều vùng phụ cận
Tâm lý "thương nhớ đồng quê" - một chỉ dấu về gốc tích làng xã của nhiều người sống ở thủ đô, được thể hiện trong các biển hiệu: "Gà đồi, lợn Mán, cơm quê", "Vịt Lạng Sơn", "Gà Mạch Hoạch", (có chỗ viết là Mạnh Hoạch), hay các món "cơm niêu", "cháo cá".
Rồi gần thì bánh cuốn Thanh Trì, rượu làng Vân, xa thì quán Huế, phở Nam Định, mì Quảng...cũng Việt Nam ta cả thôi nhưng nghe cũng khoái khẩu ra phết. Xa và lạ hơn chút nữa thì "Lẩu Tứ Xuyên", "Bia Đức, Xúc-xích Tiệp" đủ kiểu.
Ngoài ra, cứ ngồi trên taxi lúc kẹt xe mà nhìn biển phố thì còn thấy đủ kiểu cách ghép thương hiệu, biển hàng pha trộn Âu-Á hoặc chơi nguyên tiếng Anh, tiếng Pháp. Nào Cà phê Honey, Laptop Khoa Nam, Phở Bò nằm cùng Games Online.
Còn tiếp ...

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2008

Giới thiệu sách (chưa biết bao giờ đăng được) đang có tính thời sự cao

Nhà văn Nguyễn Khải trước khi mất đã viết 2 tùy bút chính trị: “Đi tìm cái Tôi đã mất vào năm 2006. Ông viết cho bản thân ông và cho gia đình, viết để đấy chứ biết rằng làm sao đăng được. Đến 2007 ông lại cố gắng viết thêm, vì … một tùy bút nữa là “Nghĩ muộn”.

Tháng 5 vừa qua trên mạng mới xuất hiện “Đi tìm cái Tôi đã mất” – tôi đang đọc và muốn chia sẻ cùng các bạn.

Xin giới thiệu: Đi tìm cái tôi đã mất, 2006

Tuỳ bút chính trị của nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008). Cập nhật : 06/05/2008

Và sau đây là nhận xét của ông Vương Trí Nhàn:

Văn học Văn học Việt Nam

16.6.2008 Vương Trí Nhàn

Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải

Tôi biết rằng nhiều người có cách nghĩ tương tự như Dương Tường khi đọc Đi tìm cái Tôi đã mất - Tùy bút chính trị của Nguyễn Khải (xem bài phỏng vấn trên talawas số ra 11-6-08). Và tôi tin chắc ở dưới suối vàng, tác giả Xung đột cũng muốn người đọc và đồng nghiệp nghĩ về mình như vậy.
Nhưng với tôi, tác phẩm này gợi ra những suy nghĩ khác, xin sơ bộ trình bày như sau…

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2008

Có bao nhiêu cửa ô của Hà nội - tiếp

Từ đời nhà Nguyễn. Sách Bắc thành dư địa chí soạn hồi đầu thế kỷ XIX cho biết Hà Nội có 21 cửa ô. Song, sách này lại không kể đầy đủ tên 21 cửa ô kia.
Phải đợi đến năm 1831, khi hai ông Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến dựng bản đồ Toà thành Hà Nội, mới thấy ghi lại vị trí và tên 16 cửa ô: ô Yên Hoa nay là ngã ba đê Yên Phụ - đường Thanh Niên, ô Yên Tĩnh nay là ngã ba đê Yên Phụ - Cửa Bắc, ô Thạch Khối nay là đầu dốc Hàng Than, ô Phúc Lâm nay là đầu phố Hàng Đậu, ô Thanh Hà nay là ô Quan Chưởng, ô Trừng Thanh nay ở vào khoảng mé phải nhà tắm công cộng Chợ Gạo cũ, ô Mỹ Lộc nay là ngã ba đường Trần Quang Khải - Hàng Mắm, ô Đông An nay là ngã ba Trần Quang Khải - Hàng Thùng, ô Tây Luông nay là Nhà hát Thành phố, ô Nhân Hoà nay là ngã ba Trần Quang Khải - Trần Hưng Đạo, ô Thanh Lãng nay là ô Đống Mác, ô Yên Ninh nay là ngã tư phố Huế - Đại Cồ Việt (tức ô Cầu Dền), ô Kim Hoa ở ngã tư quốc lộ 1 - Đại Cồ Việt (tức ô Đồng Lầm), ô Thịnh Quang nay là ngã tư Hàng Bột - Khâm Thiên (tức ô Chợ Dừa), ô Thanh Bảo nay là bến ô tô Kim Mã, ô Thuỵ Chương nay là khoảng vườn hoa Tây Hồ ở đầu đường Hoàng Hoa Thám.
Như vậy, vào khoảng 1831 Hà Nội có 16 cửa ô. Nhưng đến năm 1866 thì mất một cửa ô. Vì xem bản đồ Tỉnh thành Hà Nội vẽ năm 1866 đời Tự Đức thì chỉ còn 15 cửa ô. Mất cửa ô Nhân Hoà. Và nhiều cửa ô mang tên mới: Yên Hoa thành Yên Phụ, Yên Tĩnh thành Yên Định, Thạch Khối thành Nghĩa Lập, Phúc Lâm thành Tiền Trung, Tây Luông thành Trường Long, Thanh Lãng thành Lãng Yên, Yên Ninh thành Thịnh Yên, Kim Hoa thành Kim Liên, Thịnh Quang thành Thịnh Hào.Khoảng mười lăm năm tiếp theo, cũng vẫn 15 cửa ô, nhưng Yên Định đã đổi ra Yên Ninh, Đông Hà thành Thanh Hà, Trường Long thành Cựu Lâu.
Điều đáng chú ý là phần lớn các cửa ô đều thông ra sông Hồng: ở phía tây có 2 cửa, phía nam có 3 cửa, ra sông Hông có 11 cửa. Đó là vì các cửa ô chính là các cửa của tòa thành đất bao bọc quanh kinh thành Thăng Long. Ra vào kinh thành tất phải qua cửa ô. Ban đêm, tại các cửa ô đều có tuần phiên canh gác, kiểm soát sự ra vào kinh thành. Song thời đó đường giao thông nối Thăng Long với bốn phương chủ yếu là đường sông, cho nên dọc sông Hồng có nhiều bến, phố xá đông đúc, nhiều hiệu buôn lớn của người Việt và người nước ngoài tập trung ở đây. Vì vậy, phải mở nhiều cửa ô để đi lại được dễ dàng. Hai cửa ô Thanh Hà và Trừng Thanh rất gần nhau vì thời xưa cửa sông Tô Lịch nằm giữa hai ô này. Cho nên tuy gần thế mà là xa cách- cách sông cách đò.
Sau hơn 100 năm, 15 cửa ô kia chỉ còn sót lại một cửa, và trong ký ức của nhân dân chỉ lưu lại tên tuổi của sáu cửa ô mà phần lớn được gọi bằng tên nôm: ô Yên Phụ, ô Quan Chưởng (tức Thanh Hà), ô Đống Mác (tức Lãng Yên), ô Cầu Dền (tức Thịnh Yên), ô Đồng Lầm (tức Kim Liên), ô Chợ Dừa (tức Thịnh Hào). Có một cửa ô nữa đã đi vào ca dao - ô Hàng Đậu, tức Phúc Lâm - nhưng nay không ai nhắc tới nữa./.

Khủng hoảng và giải pháp

"Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam sau một tháng “hạ nhiệt” đã tiếp tục leo thang cùng sự xuống dốc không phanh của thị trường chứng khoán.

Hệ thống ngân hàng thì mong manh có thể gặp vấn đề bất kỳ lúc nào cho dù Ngân hàng nhà nước luôn khẳng định về sự ổn định. Thị trường bất động sản lại đóng băng.

Tất cả những vấn đề đó chưa nóng bằng những cơn sốt hàng hoá có thể diễn ra bất kỳ lúc nào, khiến chính phủ “toát mồ hôi hột” dập tắt cũng như công khai nguyên nhân tại sao có sốt...."

Sao đến nông nỗi này?

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2008

Phiếm: Mùa gió chướng

“…Chúng ta bắt đầu buộc phải sống bình thường như thiên hạ. Và cái bình thường hấp dẫn nhất đồng thời cũng là khó khăn nhất chính là làm quen với tư cách của những người sở hữu, nền tảng của dân chủ và cũng là nguồn lực của kinh tế thị trường…” Chưa bao giờ đầu óc bị phân tâm như thời điểm này. Cuộc sống trở nên bề bộn của những chuyển đổi . Mới hơn một năm gia nhập WTO, vừa mới những ngày ngây ngất với những chỉ tiêu vượt trội, nay lần đầu tiên Quốc hội phải biểu quyết hạ thấp những chỉ tiêu phát triển kinh tế mới thông qua, ngón tay còn lưu cái cảm giác tê tê của lần ấn nút cách đây mới chừng nửa năm….Xem tiếp

Dương Trung Quốc