Thứ Hai, 17 tháng 8, 2009

Làm "Phuoter"

Cuối tháng 6 vừa rồi cùng mấy ông bạn già thực hiện một chuyến "Phượt*" bằng ô tô từ Bắc vào miền Trung. Tại mỗi điểm dừng ghi lại được một số hình ảnh. Đương nhiên ảnh thì chụp được nhiều, chọn một số đưa lên để mọi người "du lịch" qua blog.
Ngày thứ nhất (23/6/2009)
Xuất phát từ Hà nội theo đường 6, chúng tôi đến Xuân mai, từ Xuân mai theo đường HCM thẳng tiến.

Cầu cạn bên rừng Cúc phương



Đài kỷ niệm tại ngã 3 Đồng lộc

Ngày thứ 2 (24/6/2009): Theo quốc lộ 1 đi tiếp.


"Chộp" được hình của biển bạc khi qua bãi Đá Nhảy (Quảng bình)



Cửa động Phong nha (Kẻ bàng, Quảng bình), nhìn từ ngoài vào và trong ra.

Tấm bia (trước một hang đá) ghi danh sách thanh niên xung phong & bộ đội hy sinh trong hang do bị bom Mỹ lấp cửa hang, thời chiến tranh chống Mỹ, trên đường 20, Tây Trường Sơn (Quảng bình). Sau này hang được gọi là hang 8 cô.




Thăm ngôi nhà, nơi sinh ra Đại tướng VNG tại Kiến giang, Lệ thủy, Quảng bình.
Ảnh được sắp xếp theo trình tự thời gian từ Bắc vào, khi qua các địa danh.
*Phượt là gì?

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2009

Cái ị


Trên trang Talawa có bài này, các cậu đọc cho vui.
"Ở đời, có gì là thú nhất, mà lương thiện?
Ngẫm kĩ, có lẽ trước ị sau ăn.
Sai à? Bạn có thể ngồi vào bàn ăn sau những lời mời thiết tha được không khi bụng ậm ạch tưởng chừng dạ dày đang lấn hết chỗ của gan phổi và xương cụt như bị nén cho chồn hẳn lại. Hẳn nhiên, khao khát lớn lao nhất, duy nhất, chi phối toàn bộ năng lực tư duy của bạn lúc đó phải là tìm nơi tự giải phóng mình lập tức. Cái đau đớn nếu có vào lúc ấy cũng là một khoái cảm huy hoàng.
Cái thú đó, cái khoái cảm đó hiển hiện, không hề của riêng ai. Thế mà nhiều năm tháng, nhiều đời người kế tiếp chẳng được nhòm nhỏ tới.
Bây giờ vẫy vùng ở chung cư đời mới, biệt thự, trang trại, cái thú đó mới được thỏa mãn dễ dàng. Nhưng được bao nhiêu người hân hoan vì hưởng thú này nhỉ?
Đừng đổ tội cho thời bao cấp vội. Tôi nghĩ chuyện thiếu trạm luân chuyển ngũ cốc tử tế là chuyện của nhiều đời người Việt từ trước đó. Chẳng qua cũng tội tại một chữ “nghèo”. Nghèo, nên mới phải giắt lưng từ bé những lời chỉ dạy sống sao cho phải. “Ăn hết nhiều chứ ở hết mấy, thêm bát thêm đũa chứ không thêm mâm, miếng ăn miếng nhục, ăn trông nồi…” Nghèo, bao nhiêu toan lo dồn lại đầu vào trong hai chữ đủ ăn, sức nào nghĩ chuyện đầu ra nữa. Tôi tin rằng, cùng sự thay đổi điều kiện kinh tế, những câu như thế này sẽ dần biến mất khỏi kí ức cộng đồng. Nhưng đến bao giờ?

Cũng vì nghĩ ăn hết nhiều ở hết mấy mà, cứ đi thử mà xem, rất ít nơi chốn trên đất nước Việt Nam, cái chốn để hưởng khoái cảm huy hoàng là ị được để tâm xây dựng.

Quê tôi, cửa ngõ Thủ đô, nơi xa gần thế nào cũng có người biết vì cuối huyện là chùa Hương Tích, điểm hành hương mỗi độ xuân về. Mà cứ như tôi nhớ thì chẳng mấy nhà có một nhà vệ sinh theo đúng nghĩa. Thế nên ai có là nổi danh. Ví như một nhà đất rộng, nhiều ao, làm cái cầu tre vắt vẻo ở cái ao tít cuối vườn và quây lại bằng lá chuối khô lướp tướp làm chỗ buồn vui, thế là chết danh ông Lâm Bõm. Còn thì dân làng có cái thú sau thú quận công. Thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng. Là dân thành phố về quê sơ tán, buổi đầu tôi không sao hiểu nổi làm thế nào người ta có thể nhịn mà chạy thốc cả cây số ra đồng. Sau thì hiểu, lại còn bị bọn trẻ cùng làng quyến rũ hưởng cái thú này. Đi học về, ăn chập ăn chuội là bổ qua nhà hàng xóm, theo nó đi bò. Nhà có làm nông đâu, mà bà tôi chiều, xin đâu được mấy mảnh xương bò, mua cho hai cái sọt nhỏ, chỉ việc bẻ đôi ba lá dong riềng lót đáy, thế là đủ lệ bộ của dân Cổ Nhuế một thời, sẵn sàng, trước kết quả dị hóa của loài nhai lại. Rồi đấy, nếu bụng có băn khoăn thảng thốt điều gì, tìm chỗ xa xa mà ghé xuống. Có lần tôi theo đứa bạn chui vào ruộng ngô nhà nó, thấy nó chổng mông không quần, chẳng lo ị, mà loay hoay nhặt nhạnh phân đạm chưa tan hết từ gốc ngô này bón sang gốc ngô kia, vừa làm vừa lảu bảu y như một bà già. Nó lại còn hái cho tôi một mớ quả đậu xanh trồng xen ngô, còn non, đang lên hạt, dặn về hấp cơm ngon lắm. Sau này, đôi lúc dừng giữa một trang sách ở chốn “công cộng” ngoài thành phố, những thân dáng gương mặt một thời lại trở về. Đứa bạn. Bà cụ dọn xong bếp núc tranh thủ ra đồng, vừa là để hưởng thú gần bằng thú quận công, vừa là để đảo qua ruộng rau mới cấy, đôi bắp chân còn dính vệt bùn mượt ở ruộng cần. Ông già hàng xóm về oang oang từ đầu ngõ khoe nhặt được trứng vịt ở bờ ruộng lúc đi ị. Tinh thần tham công tiếc việc này đã mang lại nội hàm mới cho một hành động tầm thường. Người quê tôi thay vì nói “đi ị” lại nói đi đồng. Bây giờ, nhiều người trẻ đã xây nhà kiểu phố giữa làng, nhưng ông già bà cả vẫn ưa chuyện ra đồng hưởng thú gió mơn mông và nhân thể nhúc nhắc đôi ba việc. Bạn thân mến, chưa từng sống qua không thể hiểu đời sống giản đơn tuyệt diệu đến mức nào, tuổi nhỏ thần tiên đến độ nào nếu có chút hương đồng gió nội cỏ rơm sông nước để mà thương nhớ. Biết nhớ chẳng hẳn lúc nào cũng là gánh nặng, và không cần chọn lựa không gian thời gian đâu.

Ở Hà Nội, trước khi nhà lắp ghép xuất hiện, trừ những khu tập thể nhà cấp thấp do các cơ quan xây dựng tạm, có mấy khu tập thể cũng phải tính là hoành tráng. “Quân khu Nam Đồng”, các gia đình bộ đội quần tụ. Khu tập thể nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà bang Cò ị, cũng khá nổi tiếng. Khu Kim Liên buổi đầu dành cho cán bộ nhỡ nhỡ. Khu tập thể đại học Dược, đại học Y, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo ở dốc Thọ Lão. Khác nhau về dân trí, nhưng giống hệt nhau ở chỗ khu tập thể nào cũng chỉ có nhà vệ sinh công cộng. Đây đích thị là nơi mà mọi tưởng tượng về một xã hội bình quyền phải hướng tới. Ông trưởng khoa một đại học danh tiếng sẽ phải gặp bà cấp dưỡng của trường ở chốn này. Và liệu liệu, nếu ông lại vì một ý tưởng khoa học nào lơ đễnh không dọn sạch mặt bằng cảm khoái, thì ông chết với bà.

Giả dụ những nhà tập thể giữ nguyên mẫu như từ những trang văn học Xô-viết ra thì có lẽ cũng được. Dăm ba gia đình dùng chung dăm ba nhà vệ sinh, sạch sẽ và vui vẻ. Đấy là kinh nghiệm của tôi hồi còn bé tí. Cả hành lang tập thể thênh thang sau chiến tranh đánh phá chỉ loáng thoáng đôi ba người, phần lớn độc thân, nhà vệ sinh công cộng thành nơi chất củi cho các gia đình. Nhưng chẳng được bao ngày, người ùn về, quy mô của các gia đình phình, nỗi khổ hàng ngày bảnh mắt ra đã mục sở thị là phải chờ nhau trước cửa nhà vệ sinh công cộng, là chuyện mất nước, là chuyện bà lao công làm reo. Nỗi khổ đó thảm hại đến mức làm người ta không còn có thể thương nhau, chỉ muốn chèn lấn mà vượt trước và sẵn lòng nổi giận. Thảm hại hơn cả sự thảm hại đó, người ta đâm trơ ra, mất khả năng thẹn thùng. Để vượt nỗi thẹn thùng thê thảm này, nhiều quý vị đã phải tập một thói quen mà các nhà y học không thể nào dung thứ: đọc sách.

Dù sao thì đó cũng còn là nhà vệ sinh ở các khu tập thể cỡ. Phải đi tới những khu tập thể của các trường đại học thì mới hình dung hết sự khủng khiếp. Ví dụ trường đại học sư phạm Hà Nội I một thời. Cả mấy cái nhà bốn tầng đầy ự sinh viên của những mấy khoa, hàng ngày rồng rắn ra một dãy nhà xập xệ ngoài cánh đồng. Dân nội trú khoa tôi chiếm ngôi nhà cuối cùng trong dãy kí túc xá, được đánh dấu là A6, và, khác thói thích thi vị hóa cuộc đời bằng những hình dung từ long lanh hay thấy ở dân học Văn chương, gọi luôn trạm luân chuyển ngũ cốc là A7. Sau này, ngoài cánh đồng, nhà trường còn cho xây thêm dăm ba ngôi nhà đơn giản, bằng vốn của UNICEF hay theo thiết kế phổ biến của Unicef cho các công trình tài trợ ở mấy nước nghèo nghèo thì không biết, nhưng dân sư phạm thì gọi luôn là nhà Unicef, và đó là giảng đường của sinh viên chúng tôi khoa Văn, Toán, Tâm Lí mấy năm cuối. Buổi sáng tới giảng đường mà gặp mặt nam thanh nữ tú đi ngược lại ở đoạn đường khó nói đó là biết ngay chúng mày ở đâu ra: nhà vệ sinh công cộng. Khốn khổ cho tôi, dân Hà Nội học ngoại trú, đâu có biết cái tên gọi đơn giản của nơi chốn này, nên lần bảo vệ tốt nghiệp được 10 điểm được coi là sự kiện chấn động toàn khoa, vì trước đó mười mấy năm mới có điểm 10 như thế, nhận lời chúc của bạn bè rằng ảnh mày được treo cả trong A7, mặt thì ngơ ngác nhưng lòng vẫn thầm hơn hớn.

Đến thời Hà Nội tự hào vì hàng loạt khu lắp ghép ra đời, bi hài kịch này lại có một version khác. Nào phải về nơi khỉ ho cò gáy người sống chung cùng gia súc, thế mà vào nhiều nhà lắp ghép, biết ý mình muốn đi toilette, chủ nhà lại nhanh nhảu chạy ra mở cửa, cầm roi đuổi con lợn tạ vào một xó và trân trọng chuyển giao roi cho mình, chẳng nói cũng biết là roi ra roi, vì dùng để tác động vào bì lợn. Nhà khác thì chuồng gà ngự bên trên toilette, gà tí tách mổ nhằn ngay trên lưng. Trời ơi, cứ thử hình dung một mối tình đang chớm nở mà chàng nàng lại phải trao nhau roi chốn đó, thì mối tình đó sẽ nở tiếp ra sao? Mới đây, đọc Phế đô của Giả Bình Ao, lại gặp những chuyện xếp hàng tè ị, chẳng biết là Việt Nam hóa ở Tàu hay Tàu hóa ở ta. Chi tiết này thì Tàu đặc: một nhân vật trong đó, bà mẹ, khuyên con nên mua cái bô làm quà cưới cho bạn, rằng dùng chung nhau một cái bô là quan trọng lắm, là vợ chồng khó bỏ nhau lắm. Ừ, phải duyên thì có thể thế, nhưng nếu mới chỉ phải lòng mặt mà phải đối mặt với sự thảm hại cùng cực của đời sống, thì duyên bén làm sao!

Trở về với Mẹ ta thôi. Về với phố. Ô nhiễm môi trường ở phố cổ chẳng phải là chuyện tìm ra châu Mỹ thời nay. Qua lại nhà bạn bè ở khu phố đó mấy chục năm, tôi đã hứng chí viết hẳn một truyện ngắn: “Nhà ở phố”. Nhờ cái truyện này, và nhờ một đoạn tiểu thuyết có động chạm lại nỗi khổ tè ị, đi đâu tôi cũng hay được bạn đọc nhận là đồng hương phố. Này, nhưng mà tình thật, ở phố cổ còn sạch sẽ gấp vạn lần ở khu tập thể xuống cấp lúc cơ quan chủ quản buông không quản. Tưởng chuyện là của thời qua, về Việt Nam, lang thang qua những ngõ ngách phố phường, qua những khu tập thể cũ ních cứng người, rồi đọc báo hàng ngày trên mạng, mới biết bi hài kịch nhà vệ sinh công cộng vẫn đang tiếp diễn. Để ý mà xem, cứ nơi đâu quy mô đời sống cá nhân được nén kĩ hơn trong một chữ “riêng”, ở đó ngày sống còn đỡ đỡ.

Cứ cho là quá đà suy diễn, nhưng tôi vẫn tin rằng một trong những căn nguyên hun đúc tinh thần cam chịu và ý tứ thái quá của dân mình là do nhu cầu tè ị không được thỏa mãn một cách tự nhiên. Chứ còn gì nữa, kiềm chế được nhu cầu rất người này đòi hỏi nhiều ý chí.

Muốn hỏi: Đến bao giờ, người Việt mình ai cũng như ai được bình đẳng trong bữa ăn, trong chốn ị? Và thực hiện được nhu cầu rất con người của mình trong những điều kiện xứng đáng với con người?

Lê Minh Hà

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Lại nói về "Sự trung thực"

Albert Einstein đã cảnh báo rằng nếu không suy nghĩ độc lập thì người ta có thể trở thành một cái máy khả dụng, nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Thế nên, suy cho cùng, nếu sống trung thực thì ta sẽ được là …ta. Thế thôi, ta sẽ là một con người có tư duy độc lập với đầy đủ phẩm giá.
Thế nhưng bạn sẽ hỏi, làm sao để bạn biết suy nghĩ độc lập và biết sống trung thực?
Câu hỏi đó liên quan đến vai trò của giáo dục.
Vai trò của giáo dục ở đâu khi đối diện với những con số nhức nhói sau: 89% sinh viên từng sử dụng tài liệu trong phòng thi, 85% từng quay cóp, 42% sao chép luận văn, đồ án, 36% từng xin hoặc mua điểm (theo một khảo sát, điều tra của Bộ Giáo dục – Đào tạo trên 1.827 sinh viên ).
Giáo dục sai ở đâu?
Câu trả lời của tôi đối với câu hỏi trên là: Giáo dục sai ở chỗ đã giả thuyết rằng chỉ có một đáp án đúng cho mọi vấn đề.
Học sinh từ nhỏ thường được dạy là chỉ có một đáp án đúng, hoặc ở trong sách giáo khoa, hoặc do thầy nói thế thì phải thế. “Cãi thầy thì núi đè” vì thầy luôn luôn đúng.
Lớn lên khi đi thi đại học thì học sinh được đưa vào “lò luyện thi” để học nằm lòng cách giải toán hay cách làm văn theo mẫu.
Học sinh từ nhỏ thường được dạy là chỉ có một đáp án đúng, hoặc ở trong sách giáo khoa, hoặc do thầy nói thế thì phải thế.
Nhiều người đọc đến đây có lẽ sẽ than: Biết rồi khổ lắm nói mãi.
Tuy nhiên, mục đích của tôi không phải là tường trình hậu quả của cách giáo dục tư duy một chiều. Những con số điều tra nêu trên đã phần nào phản ánh hiện trạng tiêu cực trong giáo dục hiện nay. Bên cạnh đó có lẽ đã có nhiều bài viết về gian lận trong thi cử.
Bài viết này nhằm đặt lại vấn đề đối với giả thuyết ban đầu của cách giáo dục tư duy một chiều: chỉ có một đáp án đúng trong mọi vấn đề.
Liệu có luôn có một đáp án đúng chăng?
Nếu có thì có lẽ học sinh không cần phải suy nghĩ nhiều nữa. Họ chỉ cần học theo đáp án của sách giáo khoa, của giáo sư, v.v.
Nếu không thì học sinh Việt Nam đang bị “ép” phải suy nghĩ một chiều. Họ không có sự lựa chọn nào khác. Bất chợt tôi nhớ tới lời than của Chí Phèo: “Tôi muốn lương thiện, ai cho tôi lương thiện?”
Giả sử nếu có hai cách nghĩ về một vấn đề và cô học sinh A muốn chọn cách nghĩ B. Tuy nhiên đáp án của ngành giáo dục là A. Trong trường hợp đó, có lẽ cô học sinh ấy sẽ than, tôi muốn trung thực, ai cho tôi trung thực?

Ba người thầy

Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?"
Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.
Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm."
Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.
Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!"
Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.
Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp: "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?"
Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: "Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?"
Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.
Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.
Sưu tầm...

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009

Nước mắt phụ nữ

Một cậu bé hỏi mẹ:
- Tại sao mẹ lại khóc?
Người mẹ đáp:
- Vì mẹ là một phụ nữ.
- Con không hiểu - Cậu bé thốt lên.
Người mẹ ôm chặt con và âu yếm:
- Con không bao giờ hiểu được, nhưng nó là như thế đấy...
Thời gian trôi đi, cậu bé lại hỏi cha:
- Tại sao mẹ lại khóc hở cha?
- Tất cả phụ nữ đều như thế, con yêu ạ - người cha mỉm cười đáp.
Cậu bé lớn dần lên và khi trở thành một người đàn ông, anh vẫn thường tự hỏi: "Tại sao phụ nữ lại khóc?".
Cuối cùng anh tìm đến một nhà hiền triết. Nghe hỏi, nhà hiền triết ôn tồn nói: "Khi Thượng đế tạo ra người phụ nữ, người phải làm cho họ thật đặc sắc. Người làm cho đôi bờ vai họ cứng cáp để che chở được cả thế giới, đôi tay họ mát lành để che chở sự yêu thương, và người cho họ một sức mạnh tiềm ẩn để mang nặng đẻ đau.
Người cho họ một sự dũng cảm để nuôi dưỡng và chăm sóc gia đình, người thân, bạn bè ngay cả những lúc mọi người dường như buông trôi, và dù có nhọc nhằn đến mấy đi nữa họ không bao giờ than thở... Người cho họ tình cảm để họ yêu thương con cái ở mọi nghĩa trên đời, ngay cả những lúc con cái họ gây cho họ đau khổ.
Người cho họ sức mạnh để chăm sóc người chồng của họ, tránh vấp ngã vì người tạo dựng họ từ những xương sườn của người đàn ông để bảo vệ trái tim anh ta... Người cho họ sự khôn ngoan để biết rằng một người chồng tốt sẽ không bao giờ làm tổn thương vợ mình, hiểu rõ sự chịu đựng của người phụ nữ và cô ta luôn thấp thoáng sau mỗi thành công của người chồng.
Để làm được những việc nhọc nhằn đó, người cũng đã cho họ giọt nước mắt để rơi, để họ sử dụng bất cứ lúc nào và đấy là điểm yếu duy nhất của họ. Khi con thấy họ khóc, hãy nói với họ con yêu họ biết bao và nếu họ vẫn khóc, con hãy làm trái tim họ được bình yên".

Sưu tầm

Sự Trung thực

Sự trung thực có thể được định nghĩa đơn giản là 'không nói dối'.
Đúng vậy, chúng ta vẫn thường cho rằng chữ trung thực luôn được đề cập trong mối quan hệ giữa người với người. Trung thực trong kinh doanh nghĩa là không bán hàng gian hàng dở, không quịt nợ. Trung thực trong thi cử là không được sử dụng tài liệu, không được quay cóp.
Tuy nhiên, trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến chữ trung thực hướng nội hơn một chút, đó là trung thực trong mối quan hệ giữa ta và bản thân.
Ai trong chúng ta đều đã phạm sai lầm. Sai lầm dù là lớn hay nhỏ, một mình ta biết hay rất nhiều người biết, thì cũng nên được nhìn nhận một cách trung thực. Chúng ta chẳng cần phải lớn tiếng nói về sai lầm của mình với người xung quanh, vì chẳng ai muốn 'vạch áo cho người xem lưng cả'. Nhưng đối với bản thân, thì chúng ta cần nên trung thực mà đối diện với nó. Phật giáo dạy rằng chỉ khi ta trung thực để biết mình không hoàn hảo và mắc sai phạm, thì lúc đó ta mới sửa được mình mà trở nên hoàn hảo. Sự hoàn hảo là cái 'được' khi ta sống trung thực.
Ở xã hội ta hiện nay, lắm người chưng diện nhưng thực sự trong túi lại không có một đồng xu. Cũng có lắm kẻ phô trương sựhiểu biết, nhưng thực chất chẳng biết tí gì. Thông thường, sau những sự khoa trương đó, họ chỉ được những lời xu nịnh giả dối, hoặc sự ghen ghét dè biểu của người xung quanh. Cuối cùng, mỗi ngày, họ cũng chẳng hạnh phúc được hơn khi phải đối diện với thực tế phủ phàng của họ.
Khi sống trung thực với bản thân, ta không cần phải khua môi múa mép, ta thấy thanh thản vì ít bon chen. Trung thực với chính mình, là trung thực với người khác, ta lại nhận được sự chân thành và cảm thông. Và vì vậy ta có được hạnh phúc.
Tuy nhiên, nói thì có vẻ dễ dàng, nhưng thực tế trước mắt thì rất khó để sống trung thực.
Khi ta sống trong một môi trường thiếu trung thực thì hoá ra sự trung thực của ta lại biến thành sự bất tuân và đáng bị trừng phạt. Khi cộng đồng hưởng ứng văn hoá 'dối trá', thì kẻ tôn sùng sự thật phải đứng giữa chọn lựa, trung thực với lương tâm hay làm theo cộng đồng.
Nếu ta chọn sống theo lương tâm, thì sự trung thực của ta có thể khiến ta bị đào thải khỏi cộng đồng, cái ta gặt hái được không phải là hạnh phúc hay sự hoàn hảo mà lại lại là sự trừng phạt cho cái bất tuân.
Kẻ yếu hơn thì lo sợ mà im miệng để được yên thân. Vậy nên, trong khi cái sai trong xã hội vẫn còn nhiều, thì sự trung thực của con người lại bị hạ bệ.
Xã hội Việt Nam ta hiện nay vẫn đánh giá cao vai trò của số đông. Số đông nói đúng nghĩa là đúng. Số đông có thể biến việc làm sai thành đúng. Những kẻ nhỏ mọn dẫu có ý kiến đúng nhưng trái với số đông thì vẫn là sai. Người có bản lĩnh thì lên tiếng phản biện, nhưng lại bị trù dập.
Kẻ yếu hơn thì lo sợ mà im miệng để được yên thân. Vậy nên, trong khi cái sai trong xã hội vẫn còn nhiều, thì sự trung thực của con người lại bị hạ bệ. Rõ ràng, ta chẳng được gì khi sống trung thực cả.
Ta không thích dối trá, nên ta sống trung thực. Ta cũng muốn sự trung thực của ta được công nhận, và sự dối trá bị trừng phạt.
Vì thế, ta cần môi trường xung quanh hưởng ứng lòng trung thực của ta. Ta muốn được nói và phản biện môi trường xung quanh khi ta thấy điều sai trái. Ta muốn tiếng nói lương tâm của ta được bày tỏ.
Vậy cuối cùng, 'sống trung thực, được gì?' Có lẽ câu trả lời sẽ là "để được sự cởi mở của xã hội, để lại được sống trung thực."

Nha Trang.




Một vài hình ảnh Vinpeal-Nha Trang.


Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2009

Động Phong nha

Trong chuyến xuyên 1/2 Việt vừa rồi, đã qua Phong nha, chụp được ít hình tuy chưa vừa ý lắm vì khi vào động ánh sáng thiếu nên chỉ được như vậy.
XEM SLIDE ĐỘNG PHONG NHA

Phong nha

Date: Jul 14, 2009
Number of Photos in Album: 39

IMG_1353.JPGDate: Jun 24, 2009 3:06 AM
Number of Comments on Photo:0

View Photo


IMG_1356.JPGDate: Jun 24, 2009 3:09 AM
Number of Comments on Photo:0

View Photo


IMG_1357.JPGDate: Jun 24, 2009 3:09 AM
Number of Comments on Photo:0

View Photo


Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2009

Huề trớt.

Biết hút thuốc lá là không tốt, nhưng bỏ được thuốc lá là việc khó với nhiều người. Lâu nay việc hút thuốc trở nên phiền hà, khi trong công sở lúc ngoài sân bay bến cảng, nơi công cộng... và nhất là những khi có dịp đi du lịch nước ngoài. Ở nhiều nơi, có những lúc thèm thuốc không kiếm ra chỗ hút hoặc hút được điếu thuốc cứ như đi ăn trộm.

Một tối nghỉ ngơi nằm nhà coi ti vi bỗng thấy một tin quảng cáo, nhà đài trung ương hẳn hoi, đại khái nội dung lập tức bạn muốn bỏ thuốc lá ư, dễ lắm, hãy soạn tin nhắn BTL gởi 6754. Nhiều người bỏ thuốc hẳn được, chỉ còn vài ba người bảo thủ và không sợ mất lịch sự như tôi là chưa bỏ được, nay có người ta chỉ cho mình cách bỏ thuốc lá lập tức kìa, quá mừng. Nhắn tin liền. Tất nhiên chỉ sau một phút đồng hồ nhận lại tin nhắn. Nội dung thế này: "Khi chỉ còn hút ba bốn điếu một ngày là bạn có thể ngưng hẳn hút. Hãy chọn giờ G để bỏ hẳn".

Ôi trời! Đúng là huề trớt.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

Tâm sự vỉa hè.

Một hôm cột điện thấy anh lính trẻ leo lên lưng mình bèn hỏi anh còn định làm gì với tôi nữa đây, anh lính cười:
-Ta bắc thêm một đường cáp mới, ta là cáp bên quân đội đây.
-Cáp quân đội em cũng phải cõng sao? Thôi cho em xin, em sắp đổ sập về bên phải rồi nè, chỉ cần thêm chút nữa thôi.
-Nhà ngươi yên trí lớn đi. Mai ta sẽ kéo thêm một đường cáp nữa về bên trái, thế là cân. Mà nhà ngươi khỏi ý kiến gì mất công, còn thêm cáp điện dài dài. Chừng nào ta lên làm sếp ta sẽ cho điện cáp ngầm hết, giải phóng cho ngươi. Ráng đứng vững chờ đợi nghe cưng.

Người làm vườn đi thăm lại công viên, nơi ông chăm sóc bãi cỏ hàng cây đã nhiều năm nay, đám cỏ hỏi ông:
-Ông ơi người ta làm gì ồn ĩ ở góc đằng kia mấy bữa nay vậy?
-Ồ, người ta đóng cọc bê tông, chỗ này mai mốt thành cao ốc văn phòng các con ạ.
-Ôi, đám cỏ chúng con đã chuyển qua mấy công viên rồi, chỗ nào rồi cũng thành cao ốc chung cư cho thuê, mai mốt này chúng con sẽ ở đâu?
-Các con ngây ngô quá, mai mốt các con ra ở ngoài sân golf mà ở, muốn sang thì Hà Nội Sài Gòn gần thì ở Bình Dương, Long An, xa ra ngoài Trung ngoài Bắc cũng có luôn, toàn đất ruộng màu mỡ tha hồ mát mẻ tốt tươi, mắc mớ gì mà lo. Chỉ có ta đang buồn đây nè.
-Ông buồn chi nói tụi con nghe coi.
-Mai mốt thành phố không còn mấy công viên ta sẽ thất nghiệp các con có biết không?

Lề đường dịp này lại bị đào xới. Lề đường thắc mắc với chú thợ hồ sao mới lát gạch hè phố năm rồi, chưa hết mùi hồ chú lại xới tung lên thế này? Chú thợ hồ cũng cười:
-Thay mới nữa, mỗi năm một lần.
-Áo tôi còn mới nguyên, sao lại phải thay?
-Sếp ta nói sao ta làm vậy.
-Phải nói cho sếp biết chứ, tôi không muốn bị đào xới mãi như thế.
-Đào xới mỗi năm để sếp ta có nhiều việc làm, ta cũng có việc để làm quanh năm, giáp vòng ta đi khắp thành phố, vậy thì sao ta lại ngăn cản sếp ta nhỉ. Ôi, lại có thêm một kẻ ngây ngô nữa.
Thôi nhé, buồn ơi chào mi, hẹn dịp này năm sau ta sẽ quay lại nơi đây với mi.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009

Bia - một phần tất yếu của cuộc sống

Mùa hè, trời oi bức, khiến người ta luôn cảm thấy... hầm hập trong người. Đã thành thói quen, mỗi khi cần giải nhiệt, các đấng mày râu lại tìm đến bia và mùa hè Hà Nội là mùa của... bia.

Một - hai - ba: dzô!

- Oi bức quá, làm vài vại thôi.
- Vẫn 19C nhé!
Chỉ khoảng 10 phút sau, nhóm bia 6 người đã có mặt tại nơi tập kết quen thuộc.

Một ngày bình thường trong tuần, quán bia hơi Hà Nội ấy vẫn đông vui, tới tấp người vào ra. Nhà gửi xe luôn trong tình trạng quá tải, nhiều khách bia chưa kịp lấy về đã vội vàng... lao vào quán. 12 giờ trưa, cái nóng đã lên đến đỉnh điểm, quán bia rộng như một sân bóng đã chật kín người, mấy nhóm khách chưa tìm được chỗ ngồi cứ nháo nhác cả lên. May thay, cậu bạn tôi nhanh chân nên cũng "chiếm" được chiếc bàn nhỏ phía trong cùng của quán.
"Cho 6 bia luôn em nhá"..., vừa lau mặt bằng một chiếc khăn ướt, cậu bạn làm phó phòng của một công ty XNK nói vui: "Kinh tế gặp khó khăn như thế này, chỉ có đi uống bia là nhất". Tốp này đứng, tốp kia ngồi, nói cười, ồn ã với những âm thanh quen thuộc 1, 2, 3... dzô, dzô... Khó hiểu thật, kinh tế toàn cầu khủng hoảng, tiền ai cũng thiếu, ấy vậy mà những "quán bia VIP" như thế này có bao giờ thưa khách đâu? Toàn là khách văn phòng: già, trẻ, sếp, nhân viên... đủ cả, nhưng đã ra đây thì giữa sếp và nhân viên không hề có sự phân biệt, nếu có thì cũng chỉ là sếp uống "đỉnh" hơn nhân viên mà thôi.
Sau 10 phút chờ đợi, lượt bia đầu tiên đã xuất hiện. Em phục vụ trẻ trung, má hồng, ngực đeo biển, miệng cười tươi: "Dạ, em mời các anh dùng bia ạ!". Những chiếc cốc sành sứ dày cộp đầy oặp bia cứ thi nhau sủi bọt. 6 cốc bia còn mát lạnh đã được 6 bàn tay nâng lên, keng, keng... ực ực... hà... mát, ngon... Rồi bia liên tục được đưa ra.
Sau hàng chục lần nâng lên, đặt xuống, mặt ai cũng đỏ gay, đôi mắt lờ đờ như người buồn ngủ... "Rượu vào, lời ra", từ chuyện cơ quan, đến chuyện vợ chồng, từ chuyện quan hệ đồng nghiệp đến chuyện bồ bịch, tán tỉnh lăng nhăng... ai cũng hết lòng "cởi mở".

Một phần tất yếu...

Cuối tuần, tôi được một người bạn, tên H ở Giảng Võ mời đến nhà uống bia, nhân cái sự... "vợ anh đi công tác". Nói cho vui vậy thôi, chứ cuối tuần nào, anh chẳng gọi bạn bè đến nhà nhâm nhi vài cốc cho đỡ buồn. Nhà khá rộng rãi, khang trang, lại chỉ có hai vợ chồng và một đứa con nên anh dành cả 1 tầng làm khu uống trà, uống bia. Trong tủ lạnh anh bày toàn bia chai, bia lon Hà Nội, bởi vậy nên bạn bè đã đặt cho anh biệt danh là "anh chai Hà Nội".
Trăm phần trăm cốc đầu tiên, anh Hùng tâm sự: "Trước đây anh cũng thường la cà quán sá, bù khú bạn bè giải tỏa stress. Nhưng vì bia dạo này bị giả nhiều quá. Mà cái giống bia giả uống vào chỉ có nước đau đầu. Vào quán, nhiều khi mấy cốc đầu là bia xịn, nhưng khi khách ngà ngà rồi, chủ quán cứ tha hồ bê bia rởm ra, uống xong chỉ còn nước ôm đầu". Bởi vậy, giới sành bia dạo này mỗi khi ra quán họ thường chọn một quán bia uy tín uống cho lành. Bia đã trở thành thứ đồ uống quen thuộc như một phần tất yếu của cuộc sống. Trong mọi ngõ ngách, nhà hàng, quán ăn, khu vui chơi giải trí, gia đình... nơi đâu cũng đều hưởng ứng bia.
Còn nhớ, trong ngày hội bia hơi Hà Nội, một sự kiện được tổ chức với quy mô hoàng tráng, đặc sắc của ngành bia Hà Nội, một lãnh đạo của một công ty đã tâm sự rằng: "Bia Hà Nội không phân biệt địa vị, giới tính, quốc tịch, sau những tiếng chạm cốc rộn rã, tiếng hô vang ngất trời, là những nụ cười thân thiện, ấm nồng tình bằng hữu. Bia Hà Nội đã và đang góp phần tăng thêm tình đoàn kết, luôn nỗ lực tạo dựng chữ "tín", mang đến cho khách hàng sản phẩm đạt chất lượng cao"...
Hiện mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 18 lít/năm, bằng 1/2 so với mức tiêu thụ của Hàn Quốc và bằng 1/7 so với các nước Ireland, Đức, Séc. Tuy nhiên, với mức thu nhập của người dân tăng lên, cộng với sự thay đổi tập quán uống chuyển rượu thành bia của người dân ở nhiều vùng nông thôn... thì vào năm 2010, mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam ước tính sẽ tăng tới 28 lít/năm. Đến năm 2010, tổng sản lượng bia trong nước ước đạt 2,7 tỷ lít, tăng 45% so với năm 2007. Riêng hai đại gia HABECO và SABECO đã có sản lượng khoảng 1,9 tỷ lít/năm, chiếm 60% công suất sản xuất bia cả nước.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009

Chỉ vì cái tàu này



Lâu rồi bạn không ghé qua trang blog của anh em chỉ vì cái tàu của Công ty tôi.
Nó thì tên COMATCE STAR như ảnh mình "port" lên

Nó đang xếp gạo xuất khẩu dii Philipine
sau đó thì Tôi lại nhàn...
và có thời gian tham gia trang này

Các cụ hãy phát động Anh em cùng tham gia đi, cho phong trào sôi động lại nào

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009

Đi chơi núi Tản

Sáng thứ bảy vừa rồi, "thất nghiệp" ở nhà. Đang rỗi việc, 10h có cú điện thoại của một anh bạn :
- V à! tao "cuồng cẳng" quá! đi chơi thôi!
- Đi đâu?
- Núi Tản được không!
......................................
Sau cú điện thoại tôi sửa soạn đồ "nghề" cùng 4 ông bạn "già" hẹn nhau tại một địa điểm, ăn trưa qua loa. Đúng 11h30 theo hướng Sơn tây, xuất phát lên Ba vì.
Cũng đã nhiều lần bạn bè rủ lên đây, vì điều kiện này nọ, cứ lần lữa chưa đi . Lần này tôi đi là lần đầu, trong khi những người bạn của tôi, có người lên đây đã 4, 5 lần. Với mục đích thay đổi "không khí" cũng chẳng mang gì nhiều, ngoài cái máy ảnh, chẳng mấy khi đứng trên độ cao hơn 1200 m, có nó còn ghi lại được những hình ảnh khi phóng tầm mắt ra xa.

" Ba Vì là một dãy núi đất và đá vôi lớn trải trên một phạm vi rộng nằm trên ba huyện Ba Vì (Hà Nội), Lương Sơn và Kỳ Sơn (Hòa Bình), cách nội thành Hà Nội gần 60km.
Trên Ba Vì có nhiều ngọn núi, nhưng nổi tiếng nhất là Tản Viên (còn gọi là Ngọc Tản, Tản Sơn, hoặc Phượng Hoàng Sơn). Núi này cao 1281m, gần đỉnh thắt lại, đến đỉnh lại xòe ra như chiếc ô nên gọi là Tản. Chân núi này có đền Hạ, lưng chừng núi có đền Trung, đỉnh núi có đền Thượng là nơi thờ Sơn Tinh (Đức Thánh Tản). Ngoài Tản Viên, trên Ba Vì còn có các núi cao là Ngọc Lĩnh, Tương Miêu, U Bò, Núi Tre, Ghẹ Đùng, Trăm Voi, Ngọc Hoa (đặt theo tên của công chúa con vua Hùng thứ XVIII được gả cho Sơn Tinh), và núi Vua. Núi Vua cao nhất, tới 1296m. Trên đỉnh núi Vua có đền thờ Hồ Chí Minh.
Ở chân núi phía Tây của dãy Ba Vì có dòng sông Đà, phía Đông có hồ nhân tạo Suối Hai dài 7km, rộng 4km với 14 đảo lớn nhỏ thực chất là những ngọn đồi nhô lên mặt nước.
Trên dãy Ba Vì còn có nhiều cánh rừng nguyên sinh. Hệ sinh thái động thực vật của Ba Vì rất đa dạng. Vườn quốc gia Ba Vì là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học của Ba Vì.
Ba Vì còn là một khu du lịch sinh thái nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam với các điểm du lịch như Khoang Xanh-Suối Tiên, khu du lịch Ao Vua, Đầm Long, Thác Đa, hồ Tiên Sa, suối nước khoáng Tản Đà, các đền thờ. Ở các độ cao 400m và 600m còn có hai khu nghỉ mát được xây dựng từ thời Pháp thuộc." (Theo Wikipedia)
Từ hơn mười năm lại đây, khắp các sườn núi Ba Vì đang mọc lên rất nhiều các khu du lịch sinh thái cuốn hút du khách bốn phương với nhiều cái tên như: Suối Hai, Khoang Xanh, Suối Tiên, Ao Vua, Vườn Quốc gia Ba Vì... Nhưng chuyến đi của chúng tôi không nhằm vào những chỗ đó. Mục đích là lên đỉnh cao nhất là núi Vua (1296m) để được nhìn rộng ra, chiêm ngưỡng phong cảnh xung quanh núi Tản và ghi lại những hình ảnh đó.
Đường lên núi Tản không khó lắm. Từ Hà nội theo đường 32 từ Cầu giấy đi Sơn Tây hoặc có thể đi theo đường Láng -Hòa lạc. Đến Sơn tây, từ ngã tư viện 105 theo hướng đi Đá Chông, Suối Hai, đến ngã ba Đá Chông - Suối hai, rẽ theo hướng Đá chông đi cho đến khi nhìn thấy biển đề Khu vườn quốc gia Ba vì, dừng lại mua vé. Từ đây theo đường nhựa (mặt đường tương đối tốt) lượn quanh co theo triền núi khoảng 16 km, cho đến khi gặp bãi đỗ xe ở độ cao gần 1000m thì dừng lại gửi xe (Nếu ai mới có bằng lái xe ô tô thì đây sẽ là kỳ được luyện tay lái). Đến đây bắt đầu đi bộ, ai muốn đi lên đỉnh núi nào thì tùy ý chọn. Dãy núi Ba vì có 3 ngọn cao, cao nhất là núi Vua, thứ đến là ngọn núi Mẫu - nơi đây có đền Thượng và thứ ba là núi Cha. Chúng tôi chọn đỉnh núi Vua để lên. Đường đi bộ lên núi cũng không khó, vừa đi vừa ngắm cảnh, hít thở khí trời trong lành, nghe được muôn vàn âm thanh của núi rừng, đúng với ý nghĩa thay đổi không khí. Đi vòng vèo trong rừng nguyên sinh gần 2 km , lên tới đỉnh (1296m). Tại đây có một số vọng đài để du khách có thể phóng tầm mắt về phia Tây, phía Đông của dãy Ba vì. Từ đây có thể quan sát cả một vùng đồng bằng rộng lớn với đồng ruộng, thành phố, làng mạc, sông hồ. Sông Đà uốn lượn quanh chân núi ở phía Tây, hồ Suối Hai mênh mông trải rộng ở phía Đông, nhờ vậy mà tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình. Đứng đây tôi đã có dịp chụp được rất nhiều ảnh theo tầm mắt quan sát được. Trên đỉnh Vua, về phía Đông và Đông bắc ta có thể nhìn thấy toàn bộ tỉnh Sơn tây cũ và Đan phượng Hà nội; về phía Tây tầm mắt thấy được huyện Kỳ sơn (Hòa bình); phía Nam và Tây nam là huyện Lương Sơn và Hà đông cũ (rất tiếc là không có ống kính Tele để có thể chụp được hình xa hơn nữa).
16h30 chúng tôi đã xuống đến chân núi. Chẳng lẽ đến Ba vì lại không thưởng thức "đặc sản" là món sữa chua dê, ngồi nghỉ uống nước xong, mỗi người không quên mang 2 thùng sữa chua về làm quà. Tạt qua Sơn tây thăm vợ chồng người bạn của cả nhóm, hơn 30 phút. Về đến Hà nội khi đã lên đèn. Kết thúc một buổi "rong chơi".
Chọn một số ảnh gửi lên chia sẻ cùng các bạn.

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

Gặp nhau ở Sài Gòn.


Dũng Igo công tác miền Nam, tụ tập một vài anh em tại bia tươi Lion SG.
Vợ chồng Xuân Nam, Thân, Kiếm, Igo, Nghĩa và chú em đồng nghiệp Igo.

Ảnh chụp ngày 26.4.2009.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2009

Tin buồn

Thương tiếc báo tin
Bạn Phạm Tiến Dũng (Dũng "loe")
Nguyên là sinh viên MXD K14, TX K16
Trường ĐH giao thông đường sắt và đường bộ Hà nội (1973 - 1980)
Đã từ trần hồi 3h00 ngày 15/4/2009 tại bệnh viên Bạch mai, Hà nội sau một thời gian lâm bệnh nặng.
Tang lễ sẽ được thông báo sau.

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2009

Gặp nhau ở Sài Gòn.


Nhà hàng Việt Phố nhân chuyến đi công tác của Dũng Igo - ôtô 13, tụ tập được mấy anh em khoa Cơ khí các khóa 13, 14, 15.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2009

Lẳng lặng mà nghe “họ” ... chúc nhau!

Diễn đàn Dân trí - Thứ Ba, 27/01/2009 - 11:18 AM

Trước tiên xin các bạn miễn thứ cho điều này: Nguyên văn câu thơ của nhà thơ trào phúng đất Non Côi sông Vỵ mà ai ai cũng thuộc, là: "Lẳng lặng mà nghe "nó" chúc nhau"; nhưng kẻ hậu sinh này xin được dùng chữ “họ”.
Bởi nhẽ thời Cụ, có thể sự nhận diện quan thanh liêm, quan chính trực hay quan tham... là khá dễ dàng! Dễ, nên Cụ chả sợ gì, cứ thẳng ... miệng gọi bọn họ là "nó" (mặc dù Cụ chưa chắc đã lớn tuổi hơn... "nó"!). Bây giờ "tham nhũng" lại có khi là "đồng chí" của mình, là “cấp trên” của mình, là cái nhà ông đã từng đứng trên bục rao giảng "đạo đức Cách Mạng" cho mình; thì dù Cụ Tú có cho phép, tôi, kẻ viết bài này cũng không dám gọi bằng ... "nó"! Thôi, gọi "họ" cho nó lịch sự.
Thời đại bây giờ, "sống và làm việc theo pháp luật", nên càng phải thận trọng. Đã nói đến pháp luật thì điều trước tiên là phải có bằng chứng - không bằng chứng, dễ mắc tội vu khống lắm. Cho nên mới thấy "có biểu hiện... " mà đã gọi người ta bằng "nó", bằng "đứa" như Cụ Tú thời xưa, thì vô phép, có ngày chuốc họa vào thân!
Trước kia, trong ngày Tết truyền thống, cán bộ và nhân dân mình cũng chúc nhau; nhưng là chúc "mạnh khỏe", "hạnh phúc", chúc "thi đua yêu nước", chúc "làm việc bằng hai", chúc "lập chiến công", "lập thành tích",... chứ tuyệt không có chúc giầu sang. Đặc biệt cái từ "thăng quan tiến chức" bị giấu biệt!
Những Tết đầu tiên nghe mấy cán bộ Nhà Nước mình chúc nhau: "an khang thịnh vượng", nhiều người đã thấy "chờn chợn", ngường ngượng, khó lọt tai lắm! Lâu dần nghe nhiều, mới thấy quen. Người chúc cũng cười, mà "xếp" cũng cười! Vui vẻ, đầm ấm, sung sướng và hạnh phúc lắm! Rồi “cơ chế thị trường” ngày càng phát triển, người ta không chỉ chúc xuông, mà còn dâng tặng nhau những "lễ" rất hậu. Hậu đến mức nào ư? Thông thường là những phong bì USD, rồi có khi cả một chiếc xe hơi đời mới hay một lô đất cũng nên (nhưng chẳng có bằng chứng đâu, dân ngồi bệt dưới đất thì làm sao có bằng chứng được? Nói nghe biết vậy thôi đấy nhé!). Thế là "lời chúc" lập tức thành hiện thực! Hơn cả trò ảo thuật của nhà ảo thuật lừng danh thế giới "Cooc-pơ-phin"! Cụ Tú mà sống lại, phen này buôn "lọng", nuôi gà, chắc chắn đều lãi to! Mà Cụ Tú cũng thật lẩm cẩm, ai lại đi lo "trăm nghìn vạn mớ để vào đâu?". Để kho bạc, để vào thẻ ATM, nhiều nữa thì gửi sang ngân hàng nước ngoài. Một cú "kích chuột" là xong - thời đại "a-còng" mà! Đâu có lạc hậu như cái thời Cụ?!. Cho nên thiên hạ hãy lắng nghe:
"Lẳng lặng mà nghe "họ" chúc nhauChúc cho toại nguyện cả sang… giàuCon đường… luồn lách thênh thang mãiSuốt cả đời này đến kiếp sau…
Vâng! Dân mình từ lâu đã có nếp sống văn minh không còn đốt pháo vào dịp Tết nữa. Thật yên tĩnh, tha hồ “lẳng lặng mà nghe...!”

Trần Huy Thuận - Nam Định

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2009

Văn tế tử sĩ...chứng khoán

Xưa cụ đồ Chiểu có bài "Văn tế nghĩa sĩ", nay các nhà đầu tư chứng khoán cũng tự mình khóc thương cho mình bằng "Văn tế tử sĩ... chứng khoán". Tử sĩ ở đây là những kẻ đã vì sự nghiệp chứng khoán mà hy sinh tiền của..

Hỡi ôi!
Thị trường sụp đổ,
Lòng người đau khổ
Ki cóp bằng lao động khó nhọc mười năm
Tiền rủng rỉnh há cũng nổi danh
Mà một thoáng lên sàn
Tiền mất, tật mang tiếng vang như mõ
Nhớ khi xưa:
Chịu khó làm thêm
Tiền không nhiều
Nhưng cũng đủ đưa vợ đi xem phim, ca nhạc
Bản tính thật thà
Việc lăng xê, làm giá
Chẳng bao giờ biết!
Sàn chứng khoán đã mở nhiều năm
Chẳng muốn tham gia
Ghét trò buôn lận bán gian
Như nhà nông ghét cỏ!
Nào ngờ thị trường nổi lên:
Mỗi ngày kiếm năm phần trăm
Hỉ hả tiền vào ra
Vợ con nở mặt, nở mày
Chẳng phải chém rắn, đuổi hươu
Vẫn khen giỏi quá!
Phen này xin ra sức đoạn kình
Chẳng thèm làm thêm, chẳng thèm xin vợ
Mở túi xắn tay đi hốt bạc.
Khá thương thay!
Vốn chẳng phải nhà đầu tư, kinh tế
Theo đuôi đi làm ăn
Chẳng qua chỉ là xe ôm, giúp việc
Thích thì lên sàn
Việc tính toán chẳng bao giờ rõ
Chẳng biết tài chính là gì
Vẫn đặt lệnh nọ kia
Vẫn lời lãi ăn chia đủ cả
Hồng hộc xốc tới, coi tiền như không
Mặc ai cảnh báo nhỏ to
Chen lấn lên sàn, liều mình như chẳng có
Kẻ mua cao, người bán thấp
Làm cho mọi người trợn mắt hồn kinh
Trối kệ tiền của nhà, tiền nợ
Vẫn lăm lăm lời lãi đến cùng
Đâu biết xác phàm vội bỏ
Thị trường mới đỏ có vài phiên
Đã tranh bán với nhau
Tiền thu về không đủ nợ
Nuôi béo mấy thằng Tây
Trăm năm thì trường nói ấy là chữ MÊ
Chẳng bao giờ vinh quy với vợ
Ôi thôi thôi!
Chùa Trấn Quốc năm canh ưng đóng lạnh
Chút lòng tham xin trả lại ánh trăng rằm
Tiền với bạc trôi theo dòng nước đổ
Tiếc tiền quá, mẹ già ngồi khóc trẻ
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng.
Ôi!
Một trận chơi hoang
Ngàn ngày chết dở
Thương vì hai chữ thiêu thân
Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm
Nói một câu quá khổ...
Thương thay nhà đầu tư nhỏ!!!

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2009

CHÚC MỪNG NĂM MỚI.




Đầu xuân xin gởi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới tất cả mọi người và Blog của chúng ta.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2009

Dưỡng tâm - Tích đức

I/Dưỡng tâm
1/Ba nhớ
Nhớ rằng mình là người bình thường. Luôn tự coi mình là người bình thường làm cho lòng ta thanh thản. Người ở cương vị càng cao mà biết tự coi mình là người bình thường thì càng được kính trọng. Đối với một số người điều này là không dễ, bởi vì ngay một anh binh nhì cũng vẫn có thể ngạo mạn khinh người y hệt một vị tướng tài ba mắc chứng công thần. Nếu ta là người bình thường thì trên đời này chẳng có gì quan trọng lắm! Vậy thì ta cứ ung dung tự tại, sống cuộc sống của mình, làm những việc phải làm. Chúng ta thường nghe nói: "Cái khó nhất ở đời là biết dừng ở chỗ nào" và " Cái cần thiết nhất là biết mình". Người luôn nhớ mình là người bình thường sẽ dễ "biết mình" và cũng dễ "biết dừng".
Nhớ rằng mình phải là mình. Hễ cứ cố sống khác mình đi một chút thôi thì lòng ta đã không thanh thản. Hãy sống hồn nhiên như mình vốn có. Không đạo mạo, cũng không lên gân, lên cốt, là cách sống hợp với tự nhiên, vì cuộc sống không thể lúc nào cũng căng như một dây đàn đúng giọng. Mình phải là mình bởi không ai có thể thở bằng hơi của người khác. Có thể và cần phải học ở người khác rất nhiều điều, nhưng phải có cái của riêng mình để góp phần làm cho cuộc sống này đẹp hơn vì có sự đa dạng, vì không ai giống ai!
Nhớ rằng mình có thể sai. Tính có thể sai là bản chất của tri thức khoa học. Một học thuyết hay lý thuyết không chứa trong mình khả năng kiểm chứng thử - sai, chưa phải là một học thuyết ( lý thuyết) khoa học. Nữa là một con người trần thế, làm sao mà ta có thể luôn luôn đúng trong nhận thức cũng như trong thực hành. Bệnh hiếu thắng - vị thuốc độc trong quan hệ giữa người với người - bắt nguồn từ ý thức cho rằng mình không thể sai. Bệnh hiếu thắng luôn làm cho lòng mình không bình yên...
2/Ba quên
Quên tuổi tác. Tuổi tác đôi khi làm ta bận lòng. Cái vòng "sinh, lão, bệnh, tử" ai mà thoát khỏi. Càng già càng hay có vấn đề về sức khoẻ. Thường thì mãi đến lúc luống tuổi ta mới thấy sức khỏe là quý giá. Khi ngoài kia là trời xanh lồng lộng, nắng gió lung linh mà ta ngồi đây bất lực, mới thấy hối tiếc một thời trai trẻ vung phí sức lực một các liều lĩnh và dại dột. Rất may là chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, tuổi thọ của con người sẽ ngày càng cao hơn. Sắp đến rồi ngày mà: "Sáu mươi tuổi vẫn chưa già. Bảy mươi tuổi vẫn còn là trung niên". Hạnh phúc thay là có một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể khoẻ mạnh. Vậy thì hãy quên đi tuổi tác. Sống vui, sống khoẻ để thanh thản tâm hồn.
Quên bệnh tật. Bệnh tật thường dày vò ta. Thế nên trong cuộc đời thường thì ta phải sáng suốt nhìn nhận tình huống nào là có thể tránh khỏi để dũng cảm vượt qua, tình huống nào là không thể tránh khỏi để bình tĩnh cam chịu. Đối với bệnh tật cũng vậy, đã lỡ mang bệnh tật rồi thì hãy gắng quên đi: hãy vui sống mỗi ngày bằng những công việc thường nhật có ích cho chính mình, cho những người thân yêu và cho đời.
Quên hận thù. Chỉ có những người giàu lòng vị tha mới biết quên thù oán. Họ không quá buồn phiền, oán giận khi nhận thấy ai đó quanh ta tỏ ta ích kỷ, vụ lợi, tráo trở hoặc vô ơn, bạc nghĩa. Họ ý thức được rằng trong bản chất tự nhiên của con người bình thường đều có thể có những "điều ác" ấy. Lòng nhân hậu, tính cương trực và thói quen nhớ ơn kẻ khác chỉ có được ở những con người có giáo dục. Họ thường nhắc nhở ta hãy độ lượng, hãy cố biện minh cho người khác mỗi khi ta bất bình. Và như vậy lòng mình sẽ thấy nhẹ nhàng hơn...
(Trích bài của GS Chu Hảo - Dân trí )

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2009

Phong trào ...đi đâu

Các Cụ , các bạn đâu hết rồi ... quay lại với Blog đi
Năm mới Kỷ Sửu chúc các Bạn Sức khoẻ - An khang - Hạnh phúc

Bình về cái sự ăn

Nhân dịp Tết - Phiếm đàm về cái sự ăn
Đối với động vật và thực vật, ăn là để tồn tại và phát triển. Không ăn thì…”Thánh cũng không sống nổi!”.
Cây cỏ cũng phải ăn, cho dù thức ăn là đất, là phân - Vậy hiển nhiên: “Ăn để mà sống” rồi! Ấy thế mà vẫn có người nói “sống để mà ăn!”. Đúng, sai thế nào, đến nay, cuộc tranh luận vẫn chưa ngã ngũ.
Ăn tưởng là việc đơn giản, ấy vậy mà phải học đấy. Người xưa dậy rồi: Miếng ăn được coi là “ngọc thực”, nhưng cũng có khi là “miếng nhục”! Ăn uống phải cho đàng hoàng, không nhai nhồm nhoàm, càng không “phùng mang trợn má” ăn lấy được. Phải chín chắn ngay cả trong việc ăn, đừng có “ăn sổi ở thì”. Miếng ăn còn phải sạch sẽ, “ăn chín uống sôi”, chớ “ăn sống ăn sít”. Có kẻ “ăn như mèo ăn”, nhưng cũng có người “ăn hùng hục như hổ đói”. Có người mời “gẫy đũa, gẫy bát” không chịu ăn; nhưng có kẻ cứ thấy đâu có ăn là sa vào liền, “tự nhiên như ruồi”!

Bên cạnh người “phàm ăn”, bạ gì cũng ăn; thì cũng có kẻ “kén cá chọn canh”. Có kẻ “ăn hoang phá hại”; lại có người có tiền có của đấy, nhưng vẫn ăn dè ăn sẻn, dành dụm phòng lúc khó khăn. Có người khi ăn cũng luôn nghĩ đến người khác: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, thấy nồi cơm đã vơi, thì dẫu bụng còn đói, vẫn hạ bát “vô phép các cụ, cháu ăn đủ rồi ạ!”; nhưng cũng không ít kẻ mặc thiên hạ, cứ một mình “chén tì tì”, “chén thủng nồi trôi rế”… - Tất cả đều là do tính cách, đạo đức con người tạo nên cả.
Cùng ăn chung một bữa tiệc, vậy mà nhiều khi vẫn có kẻ “ăn trên ngồi trốc” đấy - mâm của người thường gọi là “đại trà”, mâm của kẻ quyền chức, gọi là “vip”. Thế cho nên đã từng xảy ra chuyện, có thực khách đã xô ghế, văng tục bỏ về, khi phát hiện ra mình bị xếp ngồi mâm đại trà - “một miếng giữa làng” mà!
Lại có cả cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” nữa. Một gia đình nông dân, suất ăn hàng ngày chỉ đáng mươi ngàn đồng Việt Nam; ấy vậy mà có những “đại gia” sang Căm-pu-chia đánh bạc, mất một lúc vài chục ngàn đô la Mỹ, vẫn thản nhiên tiếp tục đi chơi… gái để giải hạn!
Cũng gọi là “Ăn”, nhưng lại không hề… nhai bằng răng. Không dùng răng nên ăn rất khỏe, rắn mấy cũng ăn, to mấy cũng cố nuốt. Đó là cách dân chúng “hình tượng hóa” cái tệ nhận hối lộ. Kiểu ăn này thì diễn ra quanh năm, nhưng sôi nổi nhất, táo tợn nhất, vẫn là dịp Tết, từ Tết Tây đến Tết Ta. Kinh tế suy thoái ở đâu, chứ không thấy ở cái kiểu “ăn” này! Về nguyên lý, thì người ta chỉ ăn khi đói. Nhưng rất nhiều “quan” ăn cả lúc no (mà họ thì có lúc nào không no?), thế mà chả bao giờ bị bội thực cả!

“Ăn” như vậy, cũng có sự phân biệt đấy: có loại ăn “sang”; không sang không ăn. Không ăn không phải là không ăn. Cứ chịu khó lo liệu đưa thật nhiều hơn nữa, thể nào “quan” cũng ăn. Không ăn, kẻ kể chuyện này xin cứ đi đầu xuống đất! Có loại ăn không sang, nhất là “quan” sắp về vườn thì phàm ăn và tạp ăn lắm. Bạ gì cũng ăn; sạch bẩn, to nhỏ, sang hèn; ăn tuốt! Ăn của thằng có tóc đã đành, nhưng thằng đầu trọc có việc tìm đến quan, thì dù nó chỉ có cái khố rách, mà rơi vào đúng lúc cần “tận thu”, “quan” cũng ăn. Các quan tham thường ngậm miệng mà ăn, nhiều khi ăn rất lớn mà vẫn “kín như bưng”. Thánh lắm! Người thường không dễ gì bắt chước được đâu. Cơ quan phòng chống tham nhũng cũng không dễ gì có được chứng cớ quả tang !

Trong cuộc sống, còn tồn tại khá nhiều kiểu “ăn” mà không phải ăn: như “ăn hiếp”, “ăn chặn” - kiểu hành xử bắt nạt người yếu (yếu lực hoặc yếu thế) của bọn côn đồ; như “ăn không nói có” hoặc “ăn có nói không” nhằm mục đích hại người lương thiện. Các quan tham hay có thói “ăn có nói không” lắm. Chứng cứ rõ mười mươi, quan vẫn chối bỏ… không “ăn”. Bí quá thì đổ tội đó cho phu nhân (đã có vị dùng cách ấy mà thoát mọi tội lỗi đấy, bởi “ai làm nấy tội”, quan tuy là chồng nhưng từ lâu đã ly thân, nên không thể chịu trách nhiệm! Đúng quá đi chứ, trường hợp như thế mà bắt quan chịu trách nhiệm thì oan ức cho quan quá, còn đâu là sự công minh chính trực nữa?!.)
“Ăn để mà sống” hay “sống để mà ăn”? - Phải chăng, chính là hai quan niêm này đã chi phối những hành vi “ăn” kể trên, của mỗi người chúng ta? Ngày Xuân, trước mâm cỗ Tết, xin lạm bàn đôi điều quanh cái sự ăn, cũng chỉ nhằm góp chút hương vị trào lộng cho không khí bữa ăn. Tuyệt không có ý gì khác, xin thưa!...
( Trích Dân trí .com)

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2008

Tin buồn

Mẹ bạn Đỗ Đình Nghĩa lớp ô tô K13 là:
cụ bà Trần Thị Soạn mất lúc 8h40 sáng nay 11/10/2008 TP. Hồ Chí Minh.
Quàn tại nhà tang lễ thành phố, 25 Lê Quý Đôn, TP Hồ Chí Minh
Lễ viếng được tổ chức từ 9h ngày 12/10/2008
Động quan: 6h ngày 14/10/2008
An táng tại Nghĩa trang thành phố.

Kính báo

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2008

Bia Hà nội

Bia bình dân, bia cao cấp
Tôi và mấy ông bạn bia thường rủ nhau đến một phố nhỏ trong khu phố cổ, cũng ngay gần nhà để uống bia. Hầu như vào các buổi chiều, chúng tôi đều có mặt ở đó. Đó là một quán bia vỉa hè, chiều chiều những chiếc bàn được bày la liệt ra vỉa hè. Quán này đúng nghĩa bình dân, loại bia được bán là bia Việt - Pháp, giá 3.500đ/cốc. Nhiều quán bia vỉa hè khác thì bán bia Việt Hà, giá 4.500đ/cốc, hoặc bia Hà Nội 6.000đ/cốc, chất lượng cũng bình dân và cả đồ nhắm cũng rất bình dân, gồm lạc rang, nem chua, mực nướng, bánh đa...Ở nơi đây có đủ loại người, từ những ông xe ôm, anh xe thồ, người buôn bán ở chợ và cả những viên chức tụ tập nhâm nhi sau giờ làm việc. Càng không thể thiếu đám thanh niên choai choai cụng ly ồn ào. Ngồi đây, ai cũng bình đẳng như ai, cùng vui vẻ thưởng thức cốc bia mát lạnh. Sự xô bồ, náo nhiệt, ngồi vỉa hè uống bia ngắm phố cũng chính là một nét riêng thu hút thực khách. Thực tế đó cũng cho thấy, việc quản lý kinh doanh trên vỉa hè Hà Nội đã bị thả nổi.Chuyện bia hơi vỉa hè là vậy, nhưng cũng phải kể tới các loại bia cao cấp. Để uống các loại bia cao cấp, bạn chỉ có thể tới nhà hàng. Ở đây, thường bán bia chai hay bia lon như Heineken, Carlsberg, Sài Gòn, Hà Nội... Nhiều người Hà thành vào quán thích uống bia tươi.Giá bia tươi bình dân như Halida Draught Master khoảng 9.000 - 10.000đ/cốc, cao hơn có bia Đỏ 13.000đ/cốc, bia Tiệp 35.000đ/cốc. Ngoài ra các loại bia vàng, bia đen đều có giá không hề rẻ - từ 15.000đ - 60.000đ/cốc. Các nhà hàng cao cấp loại này mấy năm gần đây đều mọc lên như nấm và lúc nào cũng đông nghịt khách. Từ thiết kế nhà hàng đến phong cách phục vụ và đồ ăn đều thể hiện đẳng cấp của nhà hàng.
Ai quản chất lượng bia?
Người uống bia sợ nhất là chất lượng. Bia rẻ tiền là loại bia không tên, thường gọi là bia cỏ, giá chỉ khoảng 1.500đ đến 2.000đ/cốc, do các cơ sở tư nhân sản xuất chui. Những loại bia này được bán trong các ngõ ngách của các khu lao động, khu ngoại ô Hà Nội. Rất nhiều người uống loại bia này đã phải chịu cảnh đau đầu, bí tiểu... Chúng được sản xuất ở hàng trăm lò nấu bia thủ công - rải rác ở rất nhiều nơi và rất khó để có thể kiểm soát chất lượng hay an toàn vệ sinh thực phẩm.Bia có tên cũng có nỗi sợ riêng. Tại các quán bia hơi vỉa hè, vào những thời điểm đông khách, do không đủ cốc, các quán bia thường tráng qua nước rồi sau đó lại dùng rót bia tiếp, nên thức ăn cũng như mỡ bám trên thành cốc không được rửa sạch cũng là một tác nhân gây ảnh hưởng tới sức khoẻ. Bia lại thường bị pha với bia cỏ, bia cũ, nên chất lượng ít khi đảm bảo như bia nguyên chất của các nhà máy.Còn các loại bia tươi, có một thực trạng là tại các xưởng bia tư nhân, vì lợi nhuận, họ chỉ ủ bia ít ngày mà không theo quy trình tiêu chuẩn. Ngoài ra, nhiều xưởng bia tư nhân dùng nước giếng khoan, còn men bia thì bị bớt xén đến mức tối đa để tiết kiệm, nên bia thường có vị đắng do chưa xử lý hết nhiều tạp chất độc hại.Không những thế, do ủ chưa "chín" nên hàm lượng cồn cao, các loại bia này cũng dễ gây đau đầu. Thậm chí, có rất nhiều xưởng bia không hề tráng rửa các thùng bia cũ mà cứ tiếp tục bơm bia vào rồi bán, thậm chí bia cũ trộn với bia mới, rồi thêm CO2 vào để bán.Dân sành uống bia chọn lựa cho mình những quán, những nhà hàng uy tín. Nhưng dân ghiền bia, dân ít tiền mà việc uống bia đã thành thói quen, thì những vấn đề như trên đối với họ chỉ là gió thoảng qua. Điều quan trọng nhất đối với họ vẫn là thưởng thức hương vị mát lạnh của bia và cùng tán dóc với bạn bè.

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2008

Chuyện rất ngắn: HỘP BÁNH TRUNG THU

Năm nay Bà ngoài tám mươi. Bà sống với vợ chồng thằng Hai ở Sài Gòn. Cô Út lấy chồng làm ăn ở tỉnh xa, hè mang con vô thăm Bà, mai sớm đưa thằng nhỏ về nhập học. Sáng đi ngang chợ Cũ "Sao Sài gòn có bánh Trung thu sớm vậy cà? Mới rằm Tháng Bảy". Út ghé mua hộp bánh biếu Bà.

Bữa cơm trưa.
Út nói: "Bà ăn bánh lấy thảo. Năm nay ăn sớm cho bõ thèm". Bà ừ: "Bây xắt bánh cho con gái thằng Hai ăn trước kẻo mấy bữa qua bển học không kịp ăn". Chị dâu nói: "Thôi đừng khui, để nguyên hộp lỡ bà có muốn cho ai".
...Ừa, cũng phải. Bà có mấy đứa cháu con ông cậu ở quê. Nhắm chừng tụi nó sắp lên là bà hay chừa quà bánh cho tụi nhỏ. Bà thương ông cậu từ thuở cha mẹ mất sớm, hai chị em nuôi nhau. Ông cậu cũng mất sớm do một thời tù Côn Đảo. Tụi nó tới giờ...

Bữa cơm chiều.
Bà ăn có lưng chén, chuyện ít hơn mọi bữa, hộp bánh còn nguyên trên bàn. Anh Hai về hay chuyện ngồi lặng thinh.

Buổi tối.
Chị dâu nói gì với con gái, hồi nó lại gần bà vòng tay: "Con xin nội cho con ăn bánh nha". Bà cười móm: "Ừa, xắt bánh mau đi con. Mơi em nó dzìa rồi!". Chị dâu pha bình trà cho cả nhà, Bà vui lắm.

Lúc đi ngủ Bà nói: "Mọi năm qua rằm con Út mới dám mua bánh Trung thu!".

Đỗ Nghĩa